Powered by RND
Écoutez Tạp chí Việt Nam dans l'application
Écoutez Tạp chí Việt Nam dans l'application
(48 139)(250 169)
Sauvegarde des favoris
Réveil
Minuteur
Sauvegarde des favoris
Réveil
Minuteur
AccueilPodcasts
Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Podcast Tạp chí Việt Nam
Podcast Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

ajouter
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Voir plus
Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Voir plus

Épisodes disponibles

5 sur 25
  • Thêm Việt Nam, Mỹ mở rộng mạng lưới đối trọng với Trung Quốc ở Biển Đông
    Việt Nam là nước tiếp theo trong ASEAN thắt chặt quan hệ với Hoa Kỳ trong bối cảnh Bắc Kinh không ngừng hăm dọa, bành trướng ở Biển Đông, bằng chứng mới nhất là Bản đồ tiêu chuẩn năm 2023 của bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên Trung Quốc giúp lãnh thổ nước này « phình » thêm. Quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt - Mỹ được tổng thống Joe Biden coi là « bước đi vô cùng thiết yếu đối với hai nước », « vào lúc chúng ta phải đương đầu với thách thức có tác động lớn tới quan hệ trong khu vực và trên thế giới ».Chính sự hung hăng, cậy nước lớn của Trung Quốc khiến nhiều nước Đông Nam Á (Philippines, Việt Nam, Indonesia) có tranh chấp chủ quyền với Bắc Kinh ở Biển Đông phải thắt chặt hợp tác với bên thứ ba (Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Ấn Độ, Mỹ) để thể hiện quyết tâm răn đe trước những đòi hỏi chủ quyền ngày càng lớn của nước láng giềng khổng lồ nhưng cũng là đối tác thương mại quan trọng.Việt - Mỹ : Hai nước cựu thù thành đối tác chiến lượcNgày 10/09/2023 đánh dấu cột mốc lịch sử cho quan hệ song phương Mỹ-Việt. Tổng thống Joe Biden công du Hà Nội theo lời mời của tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng. Hai nhà lãnh đạo ra Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện. Sau 50 năm, cựu thù Mỹ trở thành một trong 5 nước hàng đầu trong hệ thống phân cấp quan hệ đối ngoại chính thức của Việt Nam.Trả lời RFI Tiếng Việt qua thư điện tử ngày 11/09, giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inoue (DKI APCSS) tại Hawaii, Hoa Kỳ đánh giá về tầm quan trọng và lợi ích của thỏa thuận quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện đối với hai nước :« Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ nâng Hoa Kỳ lên vị trí hàng đầu trong hệ thống phân cấp quan hệ đối ngoại chính thức của Việt Nam. Nó cũng sẽ nâng Mỹ lên ngang hàng với Trung Quốc và Nga trong hệ thống phân cấp này. Sự « cân bằng » giữa các cường quốc này là điều chưa từng có trong lịch sử nước Việt Nam cộng sản. Có một quy tắc bất thành văn về cấp cao nhất trong hệ thống phân cấp quan hệ đối ngoại của Việt Nam là nó được dành cho những quốc gia không gây ra mối đe dọa nào đối với sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản ở Việt Nam. Nâng Hoa Kỳ lên hàng đầu này, Hà Nội cho thấy rằng họ không còn coi Washington là mối đe dọa đối với chế độ của mình. Mối quan hệ hợp tác được nâng cao giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sẽ phần nào khắc phục cán cân quyền lực trong vùng ở Đông Nam Á, bao gồm cả Biển Đông. Khi Hoa Kỳ coi Việt Nam là một « quốc gia xoay trục » ở châu Á, mối quan hệ đối tác được nâng cao với Việt Nam sẽ tạo ra sự cân bằng quyền lực thuận lợi hơn (hoặc ít bất lợi hơn) cho Washington ở vùng Ấn Độ-Thái Bình Dương ». Đọc thêm :Việt Nam và Mỹ cảnh báo việc "sử dụng vũ lực" ở Biển ĐôngTheo nhật báo New York Times, trong suốt chuyến thăm cấp Nhà nước của nguyên thủ Mỹ, cả hai nhà lãnh đạo không trực tiếp nhắc đến Trung Quốc khi phát biểu. Thế nhưng, chính Trung Quốc là lý do ngầm để Mỹ-Việt quyết định nâng cấp quan hệ song phương trong bối cảnh tổng thống Biden cố thiết lập một mạng lưới đối tác trong vùng để ngăn cản hành động hung hăng của Bắc Kinh.Việt Nam rõ ràng sẵn sàng mạo hiểm chọc giận Bắc Kinh bằng cách nâng cao mối quan hệ với Washington. Tại sao Hà Nội lại làm như vậy ? Giáo sư Alexander Vuving phân tích :« Sự quyết đoán ngày càng tăng của Bắc Kinh ở Biển Đông, cùng với ảnh hưởng của họ ngày càng tăng ở Cam Bốt và Lào, đã khiến Việt Nam không có « chiều sâu chiến lược ». Việc Việt Nam nâng cao mối quan hệ với Hoa Kỳ là một phản ứng trước tình hình này. Nó sẽ tạo ra một đối trọng phù hợp hơn với Trung Quốc. Để giảm thiểu nguy cơ chọc giận Trung Quốc, Việt Nam đã thực hiện chiến dịch ngoại giao nhằm trấn an Bắc Kinh. Chuyến thăm Trung Quốc của người đứng đầu đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng năm ngoái (2022) đã phá vỡ quy định kéo dài hàng chục năm rằng điểm đến đầu tiên ở nước ngoài của một người đứng đầu đảng Cộng Sản Việt Nam sau khi đắc cử hoặc tái tranh cử tại Đại hội đảng Cộng Sản Việt Nam là Lào chứ không phải Trung Quốc. Hai tuần trước chuyến thăm Việt Nam của Biden, ông Nguyễn Phú Trọng đã tới cửa khẩu (Hữu Nghị) với Trung Quốc, gặp đại sứ Trung Quốc và ca ngợi tình hữu nghị với Trung Quốc. Một tuần trước chuyến thăm của Biden cũng chứng kiến ​​hai sự kiện khác trong quan hệ Việt-Trung : Bí thư Đảng Cộng sản Trọng tiếp ông Lưu Kiến Siêu, trưởng ban liên lạc đối ngoại trung ương đảng cộng sản Trung Quốc, và hai bộ trưởng quốc phòng Việt Nam và Trung Quốc gặp nhau tại biên giới Trung-Việt ». Đọc thêm : Báo chí Trung Quốc: Chuyến thăm Việt Nam của TT Mỹ "chỉ mang tính tượng trưng"Ngày 05/09, khi tiếp Lưu Kiến Siêu, trưởng ban Đối ngoại đảng Cộng Sản Trung Quốc, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh luôn luôn « coi trọng và ưu tiên hàng đầu phát triển quan hệ Việt-Trung ». Chính những hoạt động « trấn an », « xoa dịu » này là cơ sở để giới chuyên gia Trung Quốc cố giảm thiểu tầm quan trọng của sự kiện Mỹ-Việt nâng cấp quan hệ lên hàng Đối tác Chiến lược Toàn diện. Ngay khi ông Trọng và ông Biden ra tuyên bố nâng cấp quan hệ song phương, Hoàn Cầu thời báo đã đăng nay một bài nhận định của các chuyên gia Trung Quốc cho rằng Việt Nam sẽ không « đi quá xa » vì nước này không đặt quan hệ Trung-Việt làm đối trọng với quan hệ Mỹ-Việt. Trong ngày công du thứ hai của tổng thống Biden, cũng Hoàn Cầu thời báo trích nhận định của chuyên gia Hu Xijin cho rằng « Washington không nên kỳ vọng biến Việt Nam thành Philippines thứ hai ».Nhiều nước Đông Nam tìm đến Mỹ để làm đối trọng với Trung QuốcPhilippines là nước thay đổi thái độ rõ ràng và triệt để kể từ khi ông Ferdinand Marcos Jr. trở thành tổng thống, khác với những lo ngại trước đó của giới chuyên gia về quá khứ thân Trung Quốc của dòng họ Marcos. Trong chuyến công du Washington của tân tổng thống Philippines, ông Joe Biden khẳng định cam kết của Mỹ trong việc bảo vệ đồng minh, kể cả ở Biển Đông, là « vững chắc như thép ».Quân đội Mỹ được tiếp cận tổng cộng 9 căn cứ của Philippines. Quân đội hai nước thường xuyên tập trận chung thủy-lục-không quân, thêm vào đó là các cuộc tập trận đa phương cùng với các đồng minh và đối tác Úc, Nhật Bản, New Zealand, Ấn Độ. Ngoài quân sự, Mỹ và Philippines còn tăng cường hợp tác kinh tế, thúc đẩy phát triển công nghệ cao. Đọc thêm : Liên minh Mỹ-Nhật-Philippines đang được hình thành để đối phó với Trung Quốc?Trước đó, Washington đã đưa Seoul và Tokyo xích lại gần nhau hơn, ký các hiệp ước quốc phòng ở Thái Bình Dương. Có thể nói, Hoa Kỳ dường như đã đạt được một số thành công quan trọng ở châu Á trong năm 2023. Vậy bước tiếp theo của chính quyền Biden là gì để tiếp tục tăng cường liên minh ở châu Á vào thời điểm này ? Giáo sư Alexander Vuving phân tích :« Tại cuộc họp ASEAN gần đây nhất, Hoa Kỳ và Indonesia đã công bố ý định nâng quan hệ song phương lên « quan hệ đối tác chiến lược toàn diện ». Tôi nghĩ đây là một bước đi đúng hướng. Cả Việt Nam và Indonesia đều nằm trong số « các quốc gia xoay chiều » ở châu Á, do đó, điều quan trọng là Mỹ phải ngang hàng với Trung Quốc trong quan hệ đối ngoại của các quốc gia này. (Indonesia cũng là một « đối tác chiến lược toàn diện » của Trung Quốc.) Ngoài quan hệ song phương với các quốc gia chủ chốt trong khu vực, Washington phải thúc đẩy việc thành lập nhiều nhóm « tiểu phương » tập trung hợp tác trong một số lĩnh vực quan trọng như biến đổi khí hậu, khoáng sản chiến lược, chuỗi cung ứng, trí thông minh nhân tạo hoặc an ninh mạng. Ví dụ, Hoa Kỳ có thể bắt đầu một nhóm mới với các quốc gia có tầm quan trọng chiến lược, dễ bị tổn thương hơn trước biến đổi khí hậu như Việt Nam và Indonesia, cũng như các quốc gia có cùng quan điểm nhưng có đủ nguồn lực để chống lại biến đổi khí hậu như Nhật Bản, Đức hoặc Úc.Không nước thứ ba nào muốn đứng về phía nào trong cuộc cạnh tranh quyền lực lớn, nhưng hầu hết các nước trong khu vực đều rất cần sự hợp tác quốc tế trong nhiều lĩnh vực quan trọng cho sự thịnh vượng và an ninh của họ. Tận dụng những nhu cầu này của các nước trong khu vực là chìa khóa cho sự cạnh tranh giữa các cường quốc ». Đọc thêm : Thỏa thuận Việt Nam - Indonesia: Một hướng giải quyết tranh chấp Biển Đông?Vế an ninh luôn được Hoa Kỳ nhấn mạnh trong hợp tác với các đối tác trong vùng nhưng không phải là lĩnh vực duy nhất trong Chiến lược Ấn Độ-Thái Bình Dương công bố năm 2021. Chiến lược được coi là một « bước tiến lịch sử nhằm khôi phục vai trò lãnh đạo của Hoa Kỳ ở Ấn Độ-Thái Bình Dương, đồng thời điều chỉnh vai trò của mình cho phù hợp với thế kỷ 21 ». Theo trang web của Đại sứ quán Mỹ ở Việt Nam, năm 2022, « Hoa Kỳ đã tiến hành hiện đại hóa các liên minh lâu đời của mình, củng cố các mối quan hệ đối tác mới nổi, cũng như tạo dựng các liên kết mang tính sáng tạo cùng với các đồng minh và đối tác nhằm đối phó với những thách thức cấp bách, từ việc cạnh tranh với Trung Quốc cho tới biến đổi khí hậu và ứng phó với đại dịch ».Chính sách hung hăng của Trung Quốc bị phản tác dụng ?Trong khi Hoa Kỳ cố thể hiện là một đối tác « sẵn sàng hợp tác với mỗi nước », Trung Quốc lại quyết liệt bảo vệ chủ quyền, lợi ích bất chấp phản đối của các nước làng giềng, sự kiện mới nhất là Bản đồ tiêu chuẩn năm 2023 của bộ Tài Nguyên Thiên Nhiên Trung Quốc gồm « 10 đoạn », gộp hầu hết Biển Đông và cả Đài Loan, cùng với hai phần lãnh thổ có tranh chấp với Ấn Độ và kể cả phần diện tích của Nga trên hòn đảo Bolshoy Ussuiysky ở sông Amur. Đọc thêm : Việt Nam, Malaysia và Philippines phản đối bản đồ mới của Trung QuốcSự tự tin thái quá này lại gây phản tác dụng và càng tạo cớ chính đáng để Mỹ tăng cường hiện diện ở Biển Đông, theo phân tích ngày 12/09 của nhà nghiên cứu Pascal Boniface, người sáng lập Viện Nghiên cứu Chiến lược và Quan hệ Quốc tế (IRIS) :« Bản đồ này một lần nữa nhấn mạnh đến những đòi hỏi chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc lại khiến các nước láng giềng quan ngại. Thực vậy, mong muốn khẳng định sức mạnh ngày càng quyết liệt của Trung Quốc lại dẫn đến hệ quả các nước láng giềng, lúc đầu có thể không quá lo lắng về sự trỗi dậy được coi là « ôn hòa » của Trung Quốc nhưng giờ cho rằng sự trỗi dậy đó không « ôn hòa » như Bắc Kinh khẳng định.Những quan ngại đó cuối cùng mang lại kết quả tức thì, đó là yêu cầu Mỹ « bảo trợ ». Hành động của Trung Quốc lại phần nào giúp tái hợp thức hóa cho sự gia tăng hiện diện của Mỹ theo yêu cầu của một số nước trong vùng. Ông Tập Cận Bình tự tin vào bản thân, tin vào quyền lực của ông, thượng đỉnh BRICS dường như củng cố thêm quyền lực cho ông. Ông có thể tự cho phép không đến dự thượng đỉnh G20 ở Ấn Độ. Nhưng chúng ta cũng tự hỏi liệu mong muốn mãnh liệt thúc đẩy sức mạnh Trung Quốc lại không gây phản tác dụng ngay đối với cả lợi ích của Trung Quốc. Nếu không tính đến những phản ứng của các nước láng giềng, không chú ý đến môi trường quốc tế thì Bắc Kinh cũng sẽ phải chịu những hạn chế trong quá trình trỗi dậy, trong khi điều đó không phải là chủ đích của ông. Thế nhưng, điều này ngày càng được thấy rõ và giúp hợp thức hóa tuyên bố, của nhiều nước trong vùng, coi Trung Quốc không phải là một cường quốc « ôn hòa » mà là một đối thủ, thậm chí là một mối đe dọa tiềm tàng ».
    18/09/2023
  • Thời điểm thích hợp để Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ
    Nhân chuyến thăm Việt Nam của tổng thống Mỹ Joe Biden, hôm qua, 10/09/2023, Hà Nội và Washington đã nâng cấp quan hệ song phương lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”, mức cao nhất trong hệ thống quan hệ đối ngoại của Hà Nội. Nếu như việc nâng cấp quan hệ vẫn là yêu cầu từ lâu của Hoa Kỳ, về phía Việt Nam, đây là một diễn tiến ngoạn mục, bởi cho đến gần đây Hà Nội vẫn rất ngần ngại thắt chặt hơn nữa bang giao với Mỹ, vì sợ phản ứng từ Trung Quốc.  Trả lời RFI Việt ngữ, nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp, Viện Nghiên Cứu Đông Nam Á, Singapore, cho rằng thời điểm hiện nay là thích hợp để Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ mà không gặp trở ngại nào và cũng không gặp phản ứng mạnh từ phía Trung Quốc. Sau đây mời quý vị theo dõi bài phỏng vấn với nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp. RFI: Xin chào anh Lê Hồng Hiệp. Trước hết theo anh, những lý do gì khiến Việt Nam nay mạnh dạn nâng cấp quan hệ với Mỹ sau một thời gian chần chừ:Lê Hồng Hiệp: Việc Việt Nam nâng cấp quan hệ với Mỹ thì có nhiều lý do. Thật sự Mỹ và Việt Nam xứng đáng là đối tác chiến lược toàn diện của nhau. Hiện tại Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với bốn quốc gia là Nga, Trung Quốc, Ấn Độ và Hàn Quốc. So với các đối tác này thì Mỹ hoàn toàn là ngang tầm, thậm chí quan trọng hơn đối với Việt Nam về kinh tế và chiến lược. Chính vì vậy mà việc Việt Nam quyết định nâng cấp quan hệ với Mỹ lên đến mức ngang với các nước kia là hoàn toàn hợp lý. Ngoài ra, về mặt thời điểm, thứ nhất là hai nước đang kỷ niệm 10 năm quan hệ đối tác toàn diện, một thời điểm, một cái cớ rất phù hợp để hai bên có thể nâng cấp quan hệ mà không gây ra phản ứng từ các đối tác khác, đặc biệt là từ phía Trung Quốc.Thứ hai, về phía tính toán của Việt Nam, năm nay cũng là năm phù hợp, vì nếu Việt Nam chờ đợi thêm thì có thể có những yếu tố bất định mà Việt Nam không thể lường trước được. Ví dụ như năm sau, Mỹ sẽ bầu tổng thống, chúng ta không thể biết chắc chắn là chính quyền của Mỹ sẽ có gì thay đổi hay không, và nếu có thay đổi, thì liệu Việt Nam có còn là một ưu tiên trong chính sách đối ngoại của Mỹ hay không.Cạnh tranh Mỹ-Trung đang có xu hướng ngày càng gay gắt, nếu Việt Nam trì hoãn việc nâng cấp quan hệ với Mỹ, thì nếu trong tương lai, cạnh tranh Mỹ -Trung xấu đi, việc Việt Nam quyết định nâng cấp quan hệ với Mỹ có thể dẫn đến những phản ứng tiêu cực từ phía Trung Quốc, vì có thể bị xem là  chọn đứng về phía Mỹ để chống Trung Quốc.   Ngoài ra, còn có các lợi ích tiềm năng mà Việt Nam có thể mong đợi nhận được từ việc nâng cấp quan hệ, như là từ thương mại, đầu tư, công nghệ hay hợp tác chống biến đổi khí hậu và đặc biệt là những hỗ trợ của Mỹ trong lĩnh vực an ninh, quốc phòng.RFI: Ngược lại, đối với Hoa Kỳ, việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam lên thành “đối tác chiến lược toàn diện” mang lại những mối lợi  gì?Lê Hồng Hiệp: Về kinh tế, Việt Nam đang có vai trò ngày càng quan trọng đối với Hoa Kỳ. Năm vừa rồi, Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ bảy của Hoa Kỳ bên cạnh các đối tác lớn truyền thống của họ. Điều này càng trở nên rõ ràng hơn trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung dẫn đến các mâu thuẫn về thương mại và đầu tư, dẫn đến việc nhiều công ty của Mỹ đã chuyển các cơ sở sản xuất của họ qua các nước khác, trong đó có Việt Nam, biến Việt Nam thành một mắt xích ngày càng quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, phục vụ cho nền kinh tế Mỹ cũng như là các công ty đa quốc gia của Mỹ. Về mặt chiến lược, Việt Nam đóng vai trò ngày càng quan trọng trong khu vực, đặc biệt là trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung, Mỹ-Nga ngày càng gay gắt. Hoa Kỳ coi Việt Nam ngày càng quan trọng trong tính toán của họ đối với việc xử lý quan hệ với Trung Quốc và Nga. Không thể biến Việt Nam thành đồng minh quân sự thì họ cũng muốn Việt Nam trở thành một đối tác có thể hỗ trợ các mục tiêu chiến lược của Mỹ, hoặc bằng mọi cách ngăn Việt Nam ngả về phía Trung Quốc hay Nga và qua đó tạo ưu thế chiến lược cho Mỹ và các đồng minh trong việc ứng phó với các đối thủ chiến lược này.Việc nâng cấp quan hệ với Việt Nam cũng phù hợp với tầm nhìn về Ấn Độ-Thái Bình Dương của chính quyền Biden, vốn ưu tiên phát triển quan hệ với các nước chủ chốt trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, trong đó có Việt Nam, Indonesia hay Singapore…RFI: Trong một thời gian dài Việt Nam đã rất ngần ngại nâng cấp quan hệ với Mỹ vì sợ phản ứng của Trung Quốc. Nay Hà Nội đã quyết định nâng quan hệ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện”, chắc là Việt Nam đã có lường trước phản ứng của Trung Quốc cũng như đã có cách “hóa giải” phản ứng đó?Lê Hồng Hiệp: Có lẽ các nhà hoạch định chính sách ở Hà Nội đã xác định là nếu nâng cấp quan hệ với Mỹ lên thành “đối tác chiến lược toàn diện” thì sẽ khó mà gây ra các phản ứng quá mức từ phía Bắc Kinh. Thứ nhất, đối tác chiến lược toàn diện chủ yếu là một tuyên bố chính trị, chứ không phải là một liên minh quân sự. Cho nên nó không gây ra các mối đe dọa trực tiếp hay tức thì đối với Trung Quốc. Hiện giờ, quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc rất là tốt. Quan hệ song phương, ngoài vấn đề Biển Đông đang có căng thẳng, thì đang được quản lý tốt, hầu như không có những vấn đề quá lớn giữa hai nước. Vì vậy, khó có khả năng Trung Quốc sử dụng các biện pháp mạnh để trừng phạt Việt Nam về việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ.Ngoài ra, việc nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ cũng không phải là điều gì quá ghê gớm đối với Trung Quốc, vì bản thân Trung Quốc đã là “đối tác chiến lược toàn diện” của Việt Nam từ 15 năm nay, thậm chí còn ở mức cao hơn một chút, vì về mặt chính thức   đó là "đối tác hợp tác chiến lược toàn diện”, có thêm yếu tố “hợp tác” có nghĩa là cao hơn đối tác với Mỹ một bậc.Bản thân Việt Nam vẫn luôn khẳng định giữ thế cân bằng chiến lược giữa các nước lớn, đặc biệt là giữa Mỹ và Trung Quốc. Cuối năm ngoái, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã là lãnh đạo ngoại quốc đầu tiên đến thăm Trung Quốc sau Đại hội 20 của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Và nếu như chúng ta nhìn vào cách làm của Việt Nam từ trước đến nay thì chúng ta cũng có thể dự đoán được là sau chuyến thăm của ông Biden đến Hà Nội thì có rất là nhiều khả năng là Việt Nam sẽ đón tiếp chủ tịch Tập Cận Bình. Có một dấu hiệu cho thấy điều đấy sẽ sớm xảy ra, đó là ông Lưu Kiến Siêu, Trưởng ban Đối ngoại đảng Cộng sản Trung Quốc đã sang thăm Hà Nội và gặp các lãnh đạo Việt Nam. Có thể chuyến thăm của ông Lưu Kiến Siêu là một phần của kế hoạch chuẩn bị cho chuyến thăm của ông Tập Cận Bình sang Việt Nam. Có thể nói là Việt Nam đã rất khéo léo trong việc giữ cân bằng trong quan hệ giữa Mỹ với Trung Quốc và đã trấn an Trung Quốc về việc nâng cấp quan hệ với Mỹ. Tất cả những điều này đã góp phần giúp Việt Nam cảm thấy tự tin để nâng cấp quan hệ với Hoa Kỳ mà không lo ngại các hành động trả đũa từ phía Trung Quốc.RFI: Mặc dù "đối tác chiến lược toàn diện" chỉ mang tính chất là một tuyên bố chính trị, chứ không phải là một liên minh, nhưng với quan hệ mới này thì vị thế của Việt Nam trong cuộc đối đầu với Trung Quốc trên vấn đề chủ quyền Biển Đông có thể được nâng cao thêm?Lê Hồng Hiệp: Theo tôi, có nhiều khả năng là Việt Nam sẽ có một vị thế tốt hơn, một đòn bẫy lớn hơn trong việc ứng phó với Trung Quốc trên Biển Đông sau khi nâng cấp quan hệ với Mỹ. Khi nâng cấp quan hệ, Mỹ có hứa sẽ hỗ trợ Việt Nam hiện đại hóa quân đội và đặc biệt là giúp Việt Nam nâng cao năng lực thu thập thông tin tình báo trên biển, bên cạnh những hoạt động mà lâu nay Mỹ vẫn hỗ trợ Việt Nam, đó là nâng cao năng lực trên biển, thông qua việc chuyển giao các tàu tuần duyên cho Việt Nam, hay hỗ trợ Việt Nam một số trang thiết bị để giúp Việt Nam ứng phó tốt hơn với các áp lực trên biển.Trong thời gian tới, tôi nghĩ là các hoạt động này sẽ được duy trì và thậm chí được nâng cao. Cũng sẽ có thể có việc chuyển giao các trang thiết bị, thậm chí vũ khí mới trong khuôn khổ "đối tác chiến lược toàn diện" này, giúp Việt Nam có năng lực tốt hơn trong việc ứng phó với các thách thức trên Biển Đông. Có nhiều khả năng là Mỹ, với tư cách "đối tác chiến lược toàn diện" của Việt Nam, sẽ hỗ trợ Việt Nam tốt hơn trên các diễn đàn quốc tế, hay trong những trường hợp mà Việt Nam có những sự cố trên biển với Trung Quốc, như vào năm 2014 khi xảy ra vụ giàn khoan 981, Mỹ đã là một trong những nước đã mạnh mẽ ủng hộ lập trường của Việt Nam, đã có những tuyên bố, hành động cụ thể để giúp Việt Nam ứng phó với khủng hoảng đó và gây sức ép để Trung Quốc rút giàn khoan ra khỏi vùng biển Việt Nam.
    11/09/2023
  • Việt - Mỹ thắt chặt quan hệ, không để Trung Quốc "lộng hành" ở Biển Đông
    Tổng thống Mỹ không dự cuộc họp thượng đỉnh với ASEAN dù Indonesia, nước chủ tịch luân phiên ASEAN, cố tình đẩy sớm ngày họp để thuận cho lịch trình công du châu Á của ông Biden, nhưng chủ nhân Nhà Trắng lại đến thăm Hà Nội ngày 10/09/2023. Quyết định này cho thấy Washington đề cao vai trò của Việt Nam, đồng thời mong muốn nâng cấp quan hệ với Hà Nội lên hàng « đối tác chiến lược toàn diện ». Theo thông cáo của Nhà Trắng, tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng và tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ thảo luận các phương cách « thắt chặt hợp tác quan hệ giữa hai nước ». Nhưng giới chuyên gia có ý kiến khác biệt về khả năng nâng cấp quan hệ song phương.  Trong trường hợp hai bên nâng cấp quan hệ lên thành « đối tác chiến lược toàn diện », đây sẽ là một thắng lợi ngoại giao của Hoa Kỳ trong việc gia tăng ảnh hưởng ở Đông Nam Á, theo trang The Diplomat. Còn nhà nghiên cứu Lê Hồng Hiệp tại Singapore cho rằng đó sẽ là « bước đột phá đáng chú ý », vì Hà Nội chỉ ký thỏa thuận hợp tác ở cấp cao nhất với các nước được đánh giá có tầm quan trọng cho an ninh, thịnh vượng và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.  Đọc thêm : Liệu Việt Nam có thể nâng cấp quan hệ với Mỹ lên thành "đối tác chiến lược toàn diện" ?Chuyến công du Việt Nam của tổng thống Mỹ có ý nghĩa như nào trong bối cảnh hiện nay ? Khả năng và rào cản trong việc nâng cấp quan hệ song phương ? RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương Daniel K. Inouye (DKI APCSS), tại Hawaii, Hoa Kỳ.RFI : Tổng thống Mỹ công du Việt Nam ngày 10/09 tới đây. Xin giáo sư cho biết về bối cảnh chuyến công du ?G.S. Alexander Vuving : Thứ nhất, mục đích chuyến công du của tổng thống Biden sang Việt Nam là để nâng cấp quan hệ lên tầm chiến lược trong bối cảnh cả Mỹ và Việt Nam đều muốn nâng cấp quan hệ lên tầm chiến lược. Mỹ muốn ngay từ khoảng năm 2010-2011. Còn Việt Nam, phải đến tận khoảng 2018-2019 mới cho rằng đó là chuyện cần thiết.Nhưng để có được ngày hôm nay, cũng phải trải qua rất nhiều thời kỳ, bởi vì có những lúc do sức khỏe của các lãnh đạo, rồi lịch trình của các lãnh đạo không cho phép nên không gặp được nhau. Thực vậy, muốn nâng cấp quan hệ lên tầm chiến lược, Việt Nam và Mỹ cần có cuộc gặp cấp cao giữa tổng thống Mỹ và tổng bí thư đảng Cộng Sản Việt Nam. Mãi cho đến đầu năm 2023, tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và tổng thống Biden mới điện đàm với nhau. Trong cuộc điện đàm, hai ông đồng ý gặp nhau và sẽ nâng cấp quan hệ khi điều kiện cho phép. Trên đây là bối cảnh quan hệ song phương Mỹ-Việt. Đọc thêm : Dù rắc rối nghi thức, Mỹ chấp nhận tiếp Nguyễn Phú TrọngTuy nhiên còn có bối cảnh rộng hơn, tức là thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh đã chấm dứt, đặc biệt là từ cuộc thương chiến giữa Mỹ và Trung Quốc, việc Nga xâm lược Ukraina. Tất cả những sự kiện đó cho thấy thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh đã kết thúc và hiện giờ chúng ta đang ở một thời kỳ mới. Có nhiều người gọi là Chiến tranh lạnh lần thứ hai hoặc cũng có cách khác. Cho nên phải đặt vấn đề nâng cấp quan hệ Việt-Mỹ trong bối cảnh của một thời kỳ mới mà chúng ta vẫn chưa biết phải gọi tên như thế nào, nhưng là sau thời kỳ hậu Chiến tranh lạnh.RFI : Ông Biden không tham dự các cuộc họp thượng đỉnh với ASEAN dù khối này đã cố tình đẩy lên sớm hơn kỳ họp lần này nhưng chọn công du Việt Nam. Quyết định này cho thấy tầm quan trọng như thế nào của Việt Nam ?G.S. Alexander Vuving : Theo tôi, tầm quan trọng của Việt Nam đối với Hoa Kỳ xuất phát từ một số yếu tố chính : vị trí địa lý, tiềm năng kinh tế, sức đề kháng của Việt Nam đối với trung Quốc.Về vị trí địa lý, Việt Nam án ngữ con đường giao thông huyết mạch nhất của châu Á, chính là con đường đi qua Biển Đông, đồng thời cũng là con đường giao thông tấp nập nhất nối giữa Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Việt Nam cũng án ngữ cửa ngõ phía Nam của Trung Quốc thông sang Đông Nam Á, cả trên biển lẫn trên đất liền. Và Việt Nam có vị trí địa lý rất đặc biệt, tương đối bản lề giữa Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Về tiềm năng kinh tế, Việt Nam có dân số khá lớn, nhân lực rất dồi dào, đồng thời rất năng động. Ngoài ra còn có chính sách kinh tế tương đối thân thiện với nhà đầu tư. Độ mở của nền kinh tế rất cao. Việt Nam có rất nhiều hiệp định thương mại với rất nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là với hầu hết các thị trường lớn trên thế giới, có lẽ chỉ trừ Mỹ.  Đọc thêm : Việt Nam muốn thành “cứ điểm” sản xuất thế giới nhưng thiếu cơ sở hạ tầngĐiểm thứ ba cũng rất quan trọng. So với nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam có sức đề kháng rất lớn đối với bá quyền của Trung Quốc. Sức đề kháng này đã được tôi luyện trong hàng nghìn năm lịch sử, trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Việt Nam biết rằng làm chư hầu của Trung Quốc sẽ như thế nào, cho nên không bao giờ muốn rơi vào cảnh đó. Và so với nhiều nước khác trên thế giới, Việt Nam tương đối hiểu Trung Quốc và cũng tương đối biết cách đối xử với Trung Quốc hơn. Đây chỉ là tương đối. Điều đó không có nghĩa là lúc nào Việt Nam cũng đối xử với Trung Quốc một cách hợp lý nhất.RFI : Trả lời họp báo ngày 29/08, phát ngôn viên bộ Ngoại Giao việt Nam cho biết : «Chúng tôi tin rằng các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao hai nước sẽ làm sâu sắc hơn nữa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, đưa quan hệ hai nước phát triển ổn định, thực chất và lâu dài trên tất cả các lĩnh vực ». Liệu đây có phải là «thời điểm thích hợp» để nâng cấp quan hệ ngoại giao song phương như đề nghị của Mỹ ? G.S. Alexander Vuving : Mỹ muốn nâng quan hệ Việt-Mỹ thẳng từ « đối tác toàn diện » lên thành « đối tác chiến lược toàn diện ». Cá nhân tôi cho rằng thời điểm thích hợp để Mỹ và Việt Nam có một quan hệ đối tác chiến lược toàn diện là từ lâu rồi, chứ không phải chờ đến ngày hôm nay. Việt Nam muốn cân bằng quan hệ với các nước lớn, đặc biệt là với các nước có ảnh hưởng trong khu vực. Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc từ năm 2008, với Nga từ năm 2012 và với Ấn Độ từ năm 2016. Ngoài ra còn có quan hệ đối tác chiến lược sâu rộng với Nhật Bản từ năm 2014. Chỉ còn với mỗi Mỹ vẫn còn là « đối tác toàn diện », thấp hơn cả « đối tác chiến lược » một nấc. Lẽ ra là phải khoảng từ 2014-2015, Việt Nam đã cần có mối quan hệ « đối tác chiến lược toàn diện » với Mỹ rồi. Nhưng vì nhiều lý do nên vẫn chưa có. Tất nhiên, « cân bằng » không có nghĩa là với bên này hay bên kia phải có mối quan hệ như nhau. Giữa Việt Nam và Mỹ, lợi ích chiến lược của hai nước đã rất tương đồng trong khá nhiều khía cạnh, đặc biệt là cán cân quyền lực trong khu vực. Cả Mỹ và Việt Nam đều không muốn Trung Quốc lộng hành ở Biển Đông và không muốn Trung Quốc bá chủ Đông Nam Á. Cả Mỹ và Việt Nam đều muốn tôn trọng luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Quốc tế về Luật biển, ở Biển Đông, và cũng muốn có một cán cân lực lượng tương đối cân bằng ở khu vực Đông Nam Á, không để một nước nào lộng hành và bá chủ khu vực này được. Có lợi ích chiến lược tương đồng như vậy trong khi quan hệ Mỹ-Việt Nam lại ở mức thấp như thế thì quả là bất cập.  Đọc thêm : Hoa Kỳ khẳng định hậu thuẫn Việt Nam bảo vệ chủ quyền ở Biển ĐôngTuy nhiên, ở Việt Nam có hai luồng tư tưởng chính về việc phát triển quan hệ với Mỹ. Một luồng quan điểm chủ trương đi từ từ, "rón rén" trong quan hệ với Mỹ. Bởi vì họ lo ngại rằng đi xa và nhanh với Mỹ sẽ làm hỏng quan hệ với một số cường quốc khác, như Trung Quốc và Nga hoặc làm mất ổn định chính trị trong nước. Luồng quan điểm thứ hai lại cho rằng mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với Mỹ chẳng hạn sẽ giúp làm tăng thêm thế đứng của Việt Nam trong quan hệ với các nước khác và các cường quốc khác. Đồng thời cũng buộc chặt hơn những cam kết của Mỹ đối với việc « tôn trọng độc, lập chủ quyền và chế độ chính trị » của Việt Nam. Thực vậy, khi Mỹ và Việt Nam có quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, trong đó có một cam kết là Mỹ sẽ « tôn trọng độc lập, chủ quyền và chế độ chính trị » của Việt Nam. Khi quan hệ được nâng cao, Mỹ cũng sẽ nâng cao cam kết đó hơn. Điều này tốt hơn cho Việt Nam cả trong đối nội lẫn trong đối ngoại. Cho nên cái gọi là « thời điểm thích hợp » đối với Việt Nam cũng đồng thời phản ánh cuộc tranh luận giữa hai luồng quan điểm này trong nội bộ lãnh đạo Việt Nam.RFI : Nếu căn cứ vào tình hình hiện nay thì có lẽ chưa phải là « thời điểm thích hợp ». « Yếu tố Trung Quốc » có đóng vai trò nào không ?  G.S. Alexander Vuving : Theo như tôi nói ở trên, yếu tố cản trở thực chất là nhận thức quan điểm của những lãnh đạo chủ trương đi từ từ. Tất nhiên trong nhận thức quan điểm của họ có yếu tố đối nội và đối ngoại. Yếu tố đối nội là liệu quan hệ thân mật hơn với Mỹ có ảnh hưởng đến nội trị không. Còn yếu tố đối ngoại là liệu quan hệ với Mỹ sẽ ảnh hưởng thế nào tới quan hệ với Trung Quốc và Nga là hai cường quốc chống Mỹ. « Nhân tố Trung Quốc » rất quan trọng ở chỗ : Một mặt, tăng cường quan hệ với Mỹ thực ra sẽ nhằm gia tăng đối trọng với Trung Quốc. Thường thì mỗi khi Trung Quốc gia tăng gây hấn, Việt Nam lại có phản ứng là cố gắng tăng cường quan hệ với Mỹ. Mặt khác, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ được tăng cường thì cũng tạo xung lực cho Trung Quốc gia tăng gây hấn, bởi vì Trung Quốc rất bực tức khi thấy Việt Nam và Mỹ quan hệ nồng ấm với nhau. Trung Quốc đã sử dụng biện pháp vừa đe dọa vừa gây sức ép đối với Việt Nam trong vấn đề này, chẳng hạn ngay tháng 04/2022, sau khi Nga xâm lược Ukraina khoảng một tháng rưỡi, có một cuộc điện đàm giữa ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị và ngoại trưởng Việt Nam Bùi Thanh Sơn. Ông Vương Nghị nói rằng Mỹ, cùng với chiến lược Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương của họ, là nhân tố lớn nhất gây bất ổn, gây chia rẽ trong khu vực. Ông Vương Nghị cũng nói bóng gió rằng nếu tư duy theo kiểu Chiến tranh lạnh thì có thể sẽ dẫn đến một thảm họa Ukraina khác trong khu vực này, ý nói bóng gió « Việt Nam đừng đi với Mỹ », « Đi với Mỹ là có thể gây ra thảm họa Ukraina nữa ».  Đọc thêm : “Yếu tố Trung Quốc” trong quan hệ Mỹ-ViệtNgoài đe dọa, Trung Quốc đồng thời gây sức ép. Rất nhiều lần từ nhiều năm nay, lãnh đạo Trung Quốc luôn luôn nói với lãnh đạo Việt Nam là hai nước phải cùng nhau xây dựng một cộng đồng chung vận mệnh, muốn Việt Nam tham gia vào những sáng kiến toàn cầu gần đây của Trung Quốc, như sáng kiến an ninh toàn cầu, sáng kiến phát triển toàn cầu, văn minh toàn cầu… Việt Nam không muốn gia nhập quỹ đạo Trung Quốc, nhưng Việt Nam cũng phải có cách để xử lý chuyện này êm thấm, nên Việt Nam cũng ỡm ờ, không nói rõ là không muốn tham gia nhưng cuối cùng Việt Nam cũng chưa hề khẳng định là tham gia sáng kiến an ninh toàn cầu của Trung Quốc, cũng không hề khẳng định tham gia cộng đồng chung vận mệnh của Trung Quốc.Tóm lại, Việt Nam cũng phải tìm điểm cân bằng giữa những phản ứng trái chiều. Một mặt, quan hệ với Mỹ là để cân bằng áp lực của Trung Quốc. Mặt khác cũng phải làm thế nào để không gây ra những phản ứng bất lợi từ phía Trung Quốc. Cho nên mỗi khi Việt Nam tiến một bước trong quan hệ với Mỹ, Việt Nam lại phải tìm cách vuốt ve Trung Quốc để họ đỡ bực bội.  Đọc thêm : Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng, lãnh đạo nước ngoài đầu tiên đến Trung Quốc sau Đại hội Đảng Ví dụ trước chuyến đi của ông Biden đến Việt Nam, tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đã đi Trung Quốc vào cuối năm 2022. Đây là chuyến thăm phá lệ vì thông thường, từ mấy chục năm nay, sau khi được bầu làm tổng bí thư, chuyến công du nước ngoài đầu tiên của tổng bí thư là sang Lào. Đây là lần đầu tiên ông Nguyễn Phú Trọng phá lệ, ông đi Trung Quốc trước. Thực ra ông chỉ đi Trung Quốc vì sức khỏe không cho phép đi nhiều.RFI : Mối quan hệ được nâng cấp cũng được xem là gắn kết về khía cạnh an ninh và quốc phòng. Trong trường hợp Việt Nam « chưa rõ ràng », hoạt động hợp tác về an ninh, quốc phòng, đặc biệt là ở Biển Đông, sẽ đi theo hướng như nào ? G.S. Alexander Vuving : Thực ra, an ninh quốc phòng được cả Việt Nam và Mỹ coi là một trụ cột quan trọng của mối quan hệ. Thế nhưng, trong vấn đề quan hệ quốc phòng, Việt Nam có chủ trương « Bốn Không » (không đi với nước này để chống lại nước kia, không tham gia liên minh quân sự, không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam, không sử dụng vũ lực trong quan hệ quốc tế).  Đọc thêm : Nga hụt hơi xích gần với Trung Quốc buộc Việt Nam cân nhắc nâng cấp quan hệ với Mỹ ?Chính vì thế vấn đề hợp tác an ninh, quốc phòng giữa Mỹ và Việt Nam có những hạn chế rất lớn, bởi vì Việt Nam không muốn cho Trung Quốc thấy rằng Việt Nam đi với Mỹ để chống lại Trung Quốc. Việt Nam cũng không muốn cho Trung Quốc thấy rằng Việt Nam muốn sử dụng vũ lực trong quan hệ với quốc tế. Cho nên Việt Nam phải làm thế nào để Trung Quốc cảm giác là Việt Nam không muốn chiến tranh với Trung Quốc. Chẳng hạn trong những cuộc đối đầu ở Biển Đông khi Trung Quốc đưa tầu thuyền xuống để cản trở, phá hoại những hoạt động kinh tế của Việt Nam ở Biển Đông, Việt Nam cũng đưa những lực lượng « không quân sự » ra tiếp cận, như kiểm ngư, cùng lắm là cảnh sát biển, chứ không phải Hải Quân. Bản thân Việt Nam nói là nâng cấp quốc phòng nhưng thực ra không đủ sức để răn đe Trung Quốc.Tóm lại, hợp tác an ninh quốc phòng giữa Việt Nam và Mỹ có những giới hạn rất lớn để Việt Nam thực hiện chính sách « Bốn Không » của mình.RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn giáo sư Alexander Vuving, Trung tâm Nghiên cứu An ninh châu Á-Thái Bình Dương, Hawaii, Hoa Kỳ.
    04/09/2023
  • Quan hệ Trung-Việt: Bắc Kinh và Hà Nội cố trở lại con đường hòa dịu
    Ngày 13/07/2023, bên lề hội nghị ngoại trưởng ASEAN tại Jakarta, bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam Bùi Thanh Sơn đã gặp ông Vương Nghị, Chủ nhiệm Văn phòng Ủy ban Công tác Đối ngoại Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, lãnh đạo cao cấp của ngành ngoại giao Trung Quốc.  Cuộc gặp giữa ông Bùi Thanh Sơn với ông Vương Nghị và trước đó là chuyến đi Trung Quốc của thủ tướng Phạm Minh Chính ( 25/06 đến 28/06 ) phải chăng cho thấy là quan hệ Việt-Trung đang hòa dịu trở lại sau những căng thẳng trong tháng 5 ở Biển Đông do vụ các tàu của Trung Quốc xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam?Trả lời RFI Việt ngữ ngày 20/07/2023, nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang, Đại học Boston, Hoa Kỳ, nhận định: "Điều này thực sự không thể nhận xét được, do lịch trình các cuộc gặp cấp cao giữa hai bên có thể đã được lên kế hoạch từ trước. Tuy vậy, việc Việt Nam, Trung Quốc vẫn có các cuộc gặp mặt cấp cao là một tín hiệu tốt cho thấy hai nước vẫn đang kiểm soát các bất đồng trên biển, tránh để ảnh hưởng đến các mặt khác của quan hệ Việt-Trung. Việt Nam mong muốn hòa bình ổn định để phát triển kinh tế, nên giữ một mối quan hệ hữu hảo với Trung Quốc là điều rất quan trọng".Đúng là thị trường Trung Quốc quá quan trọng đối với Việt Nam nên Hà Nội không thể để cho căng thẳng kéo dài. Theo tường trình của Thông tấn xã Việt Nam, trong cuộc gặp với ông Vương Nghị hôm 13/07, ông Bùi Thanh Sơn đề nghị Trung Quốc “tiếp tục mở rộng nhập khẩu hàng hóa và đẩy nhanh tiến độ mở cửa thị trường cho các mặt hàng của Việt Nam, nhất là nông thủy sản và hoa quả; phối hợp duy trì thông quan thông suốt trong bối cảnh nông sản Việt Nam đang vào cao điểm thu hoạch”Có qua thì phải có lại, trong cuộc gặp với bộ trưởng Ngoại Giao Việt Nam, lãnh đạo ngoại giao Trung Quốc đã đề nghị hai bên “tăng cường kết nối chất lượng cao” giữa Sáng kiến “Vành đai, Con đường” với Khuôn khổ “Hai hành lang, một vành đai”. Ông Vương Nghị còn cam kết “sẽ tạo thuận lợi để Việt Nam tận dụng hiệu quả hơn các nguồn vốn hỗ trợ của Trung Quốc”.Theo hướng hòa dịu trong quan hệ, trong cuộc gặp giữa lãnh đạo ngoại giao của Việt Nam và Trung Quốc, hai bên đã “nhất trí sẽ thực hiện tốt các thỏa thuận và nhận thức chung cấp cao; kiểm soát và xử lý thỏa đáng bất đồng; nỗ lực duy trì hòa bình, ổn định trên biển”. Hai nước cũng cam kết sẽ cùng với các nước ASEAN “phấn đấu sớm đạt một Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC) thực chất, hiệu lực, phù hợp luật pháp quốc tế, bao gồm các công ước quốc tế về biển, góp phần bảo đảm hòa bình, ổn định và tự do hàng hải ở khu vực cũng như quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của các bên.” Hai bên cũng khẳng định “sẽ phát huy vai trò của các cơ chế song phương trong các vấn đề biên giới lãnh thổ, lãnh hải”.Trong bài viết đăng ngày 14/07/2023, nhật báo Hồng Kông South China Morning Post nhắc lại là vào đầu tháng này, các nhà ngoại giao Trung Quốc và Việt Nam cũng đã gặp nhau tại thành phố Quảng Châu trong khuôn khổ đàm phán của nhóm công tác về vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ và nhóm công tác về hợp tác cùng phát triển trên biển. Đây là cuộc gặp trực tiếp đầu tiên giữa các thành viên của hai nhóm này kể từ năm 2020. Theo thông báo của phía Việt Nam, trong các cuộc đàm phán đó, hai bên đã “nhất trí nỗ lực thúc đẩy hợp tác trên biển, trong đó có việc sớm đàm phán ký kết Hiệp định mới về hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ”. Theo thông cáo của phía Trung Quốc, hai bên còn “nhất trí” thúc đẩy hợp tác dầu khí ở “vùng biển không tranh chấp” ở Biển Đông. Tuy nhiên, theo South China Morning Post, các nhà quan sát cho rằng có rất ít cơ hội để thỏa hiệp trong hợp tác dầu khí giữa Việt Nam và Trung Quốc do những tranh chấp chủ quyền đã kéo dài nhiều năm giữa hai nước. Cuộc gặp tại Jakarta diễn ra trong bối cảnh mà tranh chấp chủ quyền Biển Đông tiếp tục khuấy động quan hệ Việt-Trung. Vào đầu tháng 7, Hà Nội đã ra quyết định cấm chiếu ở Việt Nam bộ phim Barbie do hãng phim Mỹ Warner Bros sản xuất vì trong phim này có hình ảnh “đường lưỡi bò”, tức là bản đồ mà Trung Quốc tự vẽ nên để áp đặt chủ quyền của họ lên phần lớn Biển Đông. Trên trang mạng Eurasia Review ngày 13/07, nhà nghiên cứu James Borton, đại học Johns Hopkins, Hoa Kỳ, nhắc lại năm nay là kỷ niệm 15 năm quan hệ “đối tác chiến lược toàn diện” giữa Việt Nam với Trung Quốc và cũng là kỷ niệm 10 quan hệ “đối tác toàn diện” giữa Việt Nam với Hoa Kỳ. James Borton nhấn mạnh cả Bắc Kinh lẫn Washington đều đang ve vãn Việt Nam, nhưng trong cuộc đua này phía Mỹ có vẻ yếu thế hơn. Ông trích nhận định của giáo sư Victor Abuza, Đại học Chiến tranh Quốc gia ở Washington: “ Bắc Kinh nay tin tưởng hơn rằng Việt Nam hành xử một cách độc lập và vẫn từ chối có bất kỳ hành động nào có thể bị Bắc Kinh xem là chống lại các lợi ích của Trung Quốc”.Chính sách của Việt Nam “đi dây” giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã một lần nữa được thể hiện rõ qua việc thủ tướng Phạm Minh Chính đã chọn đúng ngày hàng không mẫu hạm Ronald Reagan của Mỹ bắt đầu chuyến viếng thăm Việt Nam 25/06 để mở chuyến công du Trung Quốc. Phải chăng Hà Nội muốn trấn an Bắc Kinh là Việt Nam không có ý đồ gì chống Trung Quốc? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang giải thích: "Đúng là như vậy. Chính sách đối ngoại của Việt Nam từ sau chiến tranh Lạnh là giữ thế trung lập và cân bằng trên trường quốc tế. Nguồn gốc của chính sách này đến từ chính sách chảy máu trắng Việt Nam của Trung Quốc trong giai đoạn 1979-1991. Việt Nam hiểu rằng Trung Quốc sẽ có các biện pháp trừng phạt Việt Nam nếu Trung Quốc thấy là Hà Nội đang liên kết với một nước khác để chống Trung Quốc. Việt Nam không muốn có bất kỳ sự hiểu lầm nào nên chuyến thăm nhằm khẳng định cam kết với đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không dựa vào nước khác để chống Trung Quốc."Theo Vũ Xuân Khang, các chuyến thăm của một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ sẽ trấn an Hà Nội về cam kết của Hoa Kỳ đối với sự ổn định khu vực và chứng tỏ rằng Việt Nam không đơn độc. Tuy nhiên, câu hỏi lớn vẫn còn:  Các căn cứ hải quân của Việt Nam có thể được sử dụng về mặt chiến lược trong việc quản lý các mối quan hệ với Trung Quốc không? Nhà nghiên cứu Vũ Xuân Khang nhấn mạnh: "Cần phải phân tích kỹ tầm quan trọng của các quân cảng của Việt Nam. Về mặt quân sự, các quân cảng của Việt Nam có vị trí địa lý quan trọng khi hướng thẳng ra biển Đông. Trong quá khứ các cường quốc như Mỹ hay Liên Xô đã sử dụng các quân cảng này như một địa điểm dừng chân cho các hạm đội tiếp nhiên liệu hay thu thập thông tin tình báo. Tuy nhiên tầm quan trọng về quân sự không thể thay thế được tầm quan trọng về chính trị, thứ bị chi phối bởi tổng thể quan hệ Việt-Trung. Việt Nam vẫn là một nước nhỏ so với Trung Quốc, do đó, các quân cảng của Việt Nam, mặc dù có vị trí địa lý tốt, không thể nào giúp Việt Nam san bằng vị thế nước nhỏ của mình, nhất là khi Trung Quốc có đường biên giới trên bộ dài 1300 km và có thể đặt áp lực quân sự trên bộ trực tiếp lên Việt Nam, nơi mà các quân cảng không có nhiều giá trị. Cần nhắc lại là khi Việt Nam cho Liên Xô thuê Cam Ranh, Trung Quốc đã đặt áp lực quân sự rất lớn dưới chính sách chảy máu trắng Việt Nam bắt Hà Nội phải quy phục Bắc Kinh trong giai đoạn 1979-1991. Và với vị thế là nước lớn, Trung Quốc đã thành công đặt áp lực lên Việt Nam rút quân khỏi Campuchia và từ bỏ chính sách đối ngoại chống Trung Quốc, bất chấp sự hiện diện của Liên Xô ở Cam Ranh.Điều này cho thấy là Trung Quốc không ngần ngại khi Việt Nam đón tàu của Mỹ hay các nước đồng mình vì Trung Quốc có đủ khả năng để trừng phạt Việt Nam nếu Hà Nội có bất kỳ ý đồ nào sử dụng quân cảng của mình để chống Trung Quốc. Nói cách khác thì chính vì các quân cảng của Việt Nam không thể làm thay đổi tổng thể quan hệ Việt-Trung nên Trung Quốc cũng không có phản đối gì nhiều vì họ hiểu tương quan quân sự Việt-Trung không bao giờ có thể bị san bằng bởi một vài quân cảng cả. Tất nhiên Trung Quốc cũng không muốn đẩy Việt Nam vào thế phải chống Trung Quốc, nhưng điều này không có nghĩa Trung Quốc phải sợ các quân cảng của Việt Nam. Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục thực hiện chính sách "tằm ăn dâu" nhằm mở rộng ảnh hưởng trên biển Đông.
    28/08/2023
  • Cùng bị Trung Quốc đe dọa chủ quyền, Việt Nam - Ấn Độ thắt chặt hợp tác quốc phòng
    Việt Nam được New Delhi khẳng định là « một quốc gia bạn hữu », khi « lần đầu tiên, Ấn Độ tặng một tầu hộ tống » INS Kirpan. Món quà được bàn giao ở cảng Cam Ranh ngày 22/07/2023, cùng với những hoạt động huấn luyện, là sự kiện đặc biệt ý nghĩa, được Hải Quân Ấn Độ nhấn mạnh là « phản ánh cam kết của Ấn Độ hỗ trợ các đối tác có chung chí hướng nâng cao năng lực và tiềm lực quốc phòng ». Chính sự hung hăng đòi chủ quyền trên biển và trên bộ, cũng như chính sách đối ngoại hiếu chiến của Bắc Kinh đã buộc Hà Nội và New Delhi thắt chặt hợp tác quân sự để cùng đối phó với một đối thủ chung là Trung Quốc, dù không nêu tên.Không chỉ hung hăng, « bắt nạt » tầu dân sự và hải cảnh của các nước ở Biển Đông, Trung Quốc gia tăng bồi đắp các đảo nhân tạo, trong đó theo thông tin ngày 16/08 của AP, sự kiện mới nhất là xây đường băng mới trên đảo Tri Tôn, mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Ấn Độ và Trung Quốc tranh chấp lãnh thổ ở khu vực Ladakh, trên dãy Himalaya, với đỉnh điểm là vụ xung đột đẫm máu tháng 06/2020. Bất đồng vẫn chưa được giải quyết sau 19 vòng đàm phán, kết thúc hôm 16/08, dù hai bên nhất trí kiềm chế, « duy trì hòa bình và ổn định » dọc Đường Kiểm soát Thực tế (LAC).Ngoài ra, Ấn Độ còn là đối tác quốc phòng quan trọng đối với Việt Nam trong bối cảnh khó nhập vũ khí từ Nga do nước này bị phương Tây cấm vận và sa lầy trong cuộc chiến ở Ukraina. Để hiểu hơn về mối quan hệ vững bền này, cũng như tiềm năng hợp tác song phương, RFI Tiếng Việt đặt câu hỏi với nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, chuyên về an ninh hàng hải và các vấn đề hải quân, Đại học New South Wales, Úc.RFI : Việt Nam là nước đầu tiên được Ấn Độ tặng tầu hộ tống (INS Kirpan) theo lời hứa của bộ trưởng Quốc Phòng Ấn Độ khi tiếp đồng nhiệm Việt Nam ở New Delhi. Sự kiện này có ý nghĩa như thế nào đối với cả hai bên ?Nguyễn Thế Phương : Việc Ấn Độ tặng tầu hộ tống Kirpan cho Việt Nam nên đặt trong bối cảnh : sự trỗi dậy của Trung Quốc, mối quan hệ hợp tác vừa truyền thống vừa hướng tới tương lai giữa Việt Nam và Ấn Độ. Cả Ấn Độ và Việt Nam đều gặp phải những cái vấn đề rất lớn, đặc biệt là liên quan tới lãnh thổ, lãnh hải với Trung Quốc. Cả hai quốc gia đều coi Trung Quốc là một mối đe dọa an ninh tương đối rõ ràng ở hiện tại, cũng như là trong tương lai gần.Đối với Ấn Độ, từ sau vụ đụng độ giữa Ấn Độ và Trung Quốc ở Ladak năm 2020, trong nội bộ Ấn Độ bắt đầu thảo luận lại về nền tảng căn bản của chính sách đối ngoại, tương đối ôn hòa, tức là theo nguyên tắc không liên kết. Nhưng từ sau sự kiện Ladak, Ấn Độ nhận ra rằng với nền tảng đối ngoại cũ, dường như không ổn lắm.Đối với Việt Nam, Ấn Độ được cho là một trong những đối tác quan trọng, đáng tin cậy nhất của Việt Nam. Bởi vì rõ ràng là quan hệ an ninh quốc phòng, nói gì thì nói, cũng là mối quan hệ mang tính nhạy cảm. Một trong số các đối tác quốc tế mà Việt Nam có thể thoải mái nhất trong việc hợp tác an ninh quốc phòng là Ấn Độ. Có rất nhiều lý do. Ấn Độ và Việt Nam có một mối quan hệ đối ngoại từ những năm 1945, tức là mối quan hệ truyền thống vững chắc. Cả hai nước đều có xu hướng đối ngoại, gọi là không liên kết.Ở hiện tại, mối quan hệ giữa hai quốc gia là ngang hàng với Trung Quốc, tức là quan hệ đối tác chiến lược toàn diện. Và trong quan hệ an ninh quốc phòng, Việt Nam không e ngại Ấn Độ. Điểm này khá khác với phương Tây bởi vì khi hợp tác với phương Tây, luôn có vấn đề nhân quyền và một số vấn đề chính trị nhạy cảm có thể khiến cho quan hệ hợp tác quốc phòng an ninh bị chững lại. Trong quan hệ Việt Nam-Ấn Độ không có điểm này. Cho nên, tiềm năng đi tới trong lai rộng hơn rất nhiều so với phương Tây. Hạn chế duy nhất vẫn chỉ là một số hạn chế về mặt kỹ thuật và khả năng mà Việt Nam và Ấn Độ trao cho nhau trong mối quan hệ về an ninh-quốc phòng.RFI : Ấn Độ có vai trò như nào trong việc giúp Việt Nam đa dạng hóa hợp tác quốc phòng theo tinh thần « Bốn Không » và làm đối trọng với Trung Quốc ?Nguyễn Thế Phương : Từ trước tới nay, cả hai bên đã có một số dự án liên quan đến hợp tác quốc phòng-an ninh. Việc Ấn Độ trao tầu cho Việt Nam đáng lẽ nên xảy ra từ năm 2011 khi chủ tịch nước Việt Nam lúc đó là Trương Tấn Sang thăm Ấn Độ và ông có mấy đề xuất với Ấn Độ. Đa số các đề xuất đó đã được thực hiện, ví dụ Ấn Độ đào tạo thủy thủ tầu ngầm, phi công máy bay chiến đấu cho Việt Nam, đồng thời hai bên cũng trao đổi một số vấn đề mang tính kỹ thuật và hợp tác về công nghệ quốc phòng.Chủ tịch nước Trương Tấn Sang lúc đó cũng yêu cầu Ấn Độ có thể tặng lại một tầu hải quân nào đó cho Việt Nam nhưng Ấn Độ đã không đồng ý bởi vì trong giai đoạn đó, Ấn Độ đi theo chính sách ngoại giao không liên kết, họ cũng không muốn chọc giận Trung Quốc và không muốn làm tình hình căng thẳng. Nhưng tới hiện tại, năm 2023, Ấn Độ đã đồng ý với đề nghị mà Việt Nam đưa ra 12 năm trước đó. Việc này cho thấy sự biến chuyển tương đối lớn trong cách tiếp cận của Ấn Độ đối với tình hình trong khu vực, cũng như chính sách đối ngoại, quốc phòng của Ấn Độ.   Đọc thêm : Chính sách quốc phòng "Bốn Không" của Việt Nam và thực tế ở Biển ĐôngẤn Độ có mối quan hệ khá chặt chẽ với Nga. Họ cũng có mối quan hệ an ninh, quốc phòng rất tốt với phương Tây, đặc biệt là Mỹ. Vậy điểm mà Việt Nam có thể học hỏi ở đây là gì ? Thứ nhất, Ấn Độ có kinh nghiệm trong việc tiếp xúc với hai hệ thống công nghệ quốc phòng. Và điều này đặc biệt quan trọng với Việt Nam trong bối cảnh Việt Nam đang cố gắng đa dạng hóa nguồn cung quốc phòng, ngoài Nga. Sắp tới, Việt Nam có thể mua một số trang thiết bị vũ khí, cũng như là tiếp nhận công nghệ công nghiệp quốc phòng của các nước phương Tây, với hệ vũ khí phương Tây. Và với kinh nghiệm của Ấn Độ, họ có thể giúp Việt Nam điều hòa hai công nghệ vũ khí đó lại với nhau để tạo ra một hệ thống vũ khí phù hợp với đặc trưng, cách đánh và chiến thuật của Việt Nam. Về việc này, Ấn Độ và Israel rất có kinh nghiệm.  Thứ hai, Ấn Độ có kinh nghiệm trong việc phát triển nền quốc phòng nội địa khá hiệu quả. Đây cũng là điều Việt Nam cần học hỏi vì bản thân của một nền quốc phòng mạnh là khi có thể tự sản xuất các loại vũ khí quan trọng cho riêng mình mà không cần phải mua. Khi chiến tranh xảy ra, họ có thể có đủ khả năng duy trì khả năng chiến đấu. Công nghiệp quốc phòng và nền tảng công nghiệp quốc phòng là điểm mạnh của Ấn Độ. Họ cũng mong muốn xuất khẩu một số loại vũ khí nội địa sang Việt Nam. Điều này hiện nay chưa diễn ra được nhưng sắp tới hoàn toàn có thể là Ấn Độ cung cấp một số loại vũ khí cho Việt Nam.  Điểm thứ ba mà Việt Nam có thể hợp tác với Ấn Độ là về mặt an ninh hàng hải. Không chỉ liên quan đến vũ khí mà còn có thể là trao đổi về mặt chiến thuật-chiến lược. Các tầu hải quân Ấn Độ thăm Việt Nam, cũng như là tập trận với Hải Quân Việt Nam hoặc trong các vấn đề liên quan tới chống cướp biển, bảo vệ những tuyến đường biển quan trọng. Khi mà Việt Nam, cũng như ASEAN, là một trong những đối tác quan trọng của Ấn Độ, đặt trong bối cảnh « chính sách hướng Đông », vấn đề an ninh hàng hải trỗi dậy, đồng thời cũng phù hợp với bối cảnh Hải Quân Trung Quốc hiện diện ngày càng nhiều ở Ấn Độ Dương, khu vực mà bản thân Ấn Độ cho là vùng ảnh hưởng của mình.  Có thể tạm gọi là ba lĩnh vực quốc phòng mà Ấn Độ và Việt Nam có thể hợp tác sâu hơn trong tương lai. Ngoài ra, hoàn toàn có thể mở rộng ra những hợp tác mới, ví dụ an ninh mạng, vệ tinh, tích hợp công nghệ của thời đại 4.0 vào quốc phòng như IA… Đó là những mảng cụ thể trong hợp tác an ninh, quốc phòng mà cả hai quốc gia Ấn Độ-Việt Nam có thể tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa trong tương lai. RFI : Ấn Độ tiếp tục hợp tác quốc phòng với Nga. Liệu đây có phải là cách đi vòng giúp Việt Nam tiếp tục trang bị hoặc mua thiết bị bảo trì của Nga để tránh các biện pháp trừng phạt của phương Tây ? Nguyễn Thế Phương : Nói là « đi vòng » cũng không hoàn toàn chính xác bởi vĩ vũ khí Nga ở Ấn Độ hiện tại đã thay đổi một chút cho phù hợp với cách đánh của Ấn Độ, cho nên trong một số trường hợp cũng không hoàn toàn phù hợp.Nhưng vấn đề căn bản ở đây không hoàn toàn là vũ khí mà nằm ở những thiết bị và phụ tùng có liên quan. Trước đây, Việt Nam phải mua trực tiếp từ Nga. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, khi mà Nga bị cấm vận và khả năng sản xuất của ngành công nghiệp quốc phòng Nga hiện tập trung chủ yếu cho cuộc chiến, Việt Nam khó tiếp cận được những phụ tùng như vậy. Và Ấn Độ là một trong những đối tác có thể thay thế cho Nga trong vấn đề về phụ tùng, bảo trì, bảo dưỡng. Còn toàn bộ vũ khí thì có vẻ hơi khó bởi vì trong một số hợp đồng quốc phòng có một số điều kiện ràng buộc ví dụ như không được bán vũ khí cho bên thứ ba. Đọc thêm : Nga nướng vũ khí ở Ukraina, Việt Nam lo nguồn cung thiếu hụtĐiểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây, như đã nói ở trên, thứ nhất đó là kinh nghiệm của Ấn Độ trong việc chế tạo các loại vũ khí hệ Nga. Cái này Việt Nam có thể tiếp cận được. Thứ hai là phụ tùng thay thế mà Việt Nam có thể mua từ Ấn Độ, thay thế cho nguồn cung hiện bị thắt chặt từ Nga. Đây là hai điểm liên quan tới Nga mà Việt Nam có thể tận dụng trong mối quan hệ quốc phòng đang lên giữa hai nước.  RFI : Ấn Độ cũng thắt chặt hợp tức quân sự với Mỹ, chế tạo vũ khí chung. Việt Nam có thể tiếp cận nguồn cung vũ khí này, như đã làm với Israel, trong khi Hoa Kỳ vẫn chưa chính thức bật đèn xanh bán vũ khí cho Việt Nam, còn Hà Nội cũng tránh mua trực tiếp để tránh khiến Bắc Kinh giận dữ ?Nguyễn Thế Phương : Điểm này đúng. Việt Nam có thể tiếp cận và coi Ấn Độ là một trong những nhà cung cấp vũ khí quốc phòng trong tương lai. Nhưng ở đây cũng có một số điểm yếu. Về mặt truyền thống, Việt Nam hiếm khi mua một loại vũ khí tích hợp nhiều loại công nghệ khác nhau. Hợp đồng Brahmos là ví dụ cụ thể nhất vì Brahmos vừa có công nghệ Ấn Độ, vừa có cả công nghệ Nga. Tuy nhiên, tiềm năng vẫn là có.  Vế thứ hai liên quan đến việc Hoa Kỳ chưa chính thức bật đèn xanh bán vũ khí cho Việt Nam và Hà Nội cũng tránh mua trực tiếp vũ khí Mỹ để tránh làm Bắc Kinh phật lòng, cũng hoàn toàn không hẳn, mà là đến từ bản thân nhu cầu và mong muốn của Việt Nam. Các công ty quốc phòng Hoa Kỳ liên tục qua Việt Nam và họ liên tục làm truyền thông để thuyết phục Việt Nam mua. Nhưng vấn đề là Việt Nam chưa muốn, chứ không phải là Hoa Kỳ chưa bật đèn xanh.Một truyền thống từ trước đến giờ mà chưa bao giờ bị phá vỡ là Việt Nam không bao giờ mua vũ khí, tạm gọi là « vũ khí nóng », tức là có thể đánh nhau được, của Mỹ và của Trung Quốc. Truyền thống này trong tương lai chắc cũng khó có thể bị phá vỡ. Đọc thêm : Việt Nam gia tăng hợp tác quân sự với Israel nhằm làm chủ công nghệ quốc phòngViệt Nam có thể mua một số loại vũ khí hạng nhẹ như đồ dành cho huấn luyện, thiết bị cảnh báo kiểm soát. Hoặc là Việt Nam mua đồ đã qua sử dụng của một nước khác, như Nhật mua đồ của Mỹ, sau một khoảng thời gian dài Nhật muốn chuyển qua cho Việt Nam. Việt Nam nhập đồ « second hand », chứ không mua trực tiếp của Mỹ. Còn đối với Trung Quốc, Việt Nam sẽ chỉ mua một số thiết bị không tác động đến tác chiến, như gần đây có thông tin Việt Nam mua một số công cụ máy móc cho công binh để phục vụ cho các chương trình gìn giữ hòa bình với nước ngoài.Vậy vai trò của Ấn Độ là gì ? Đó là Ấn Độ, cũng giống như Hàn Quốc và Nhật Bản, có thể tiếp cận công nghệ vũ khí của phương Tây và với nền công nghiệp quốc phòng mạnh của những quốc gia đó, trong đó có Ấn Độ, họ có thể tự tạo ra các loại vũ khí « made in India », « made in Japan » hoặc « made in Korea » mà Việt Nam có thể tiếp cận theo hướng trung gian như vậy. Do đó, vai trò của Ấn Độ ở đây có liên quan tới bán các loại vũ khí mà Ấn Độ sản xuất, trong đó có công nghệ Mỹ, cho Việt Nam và giúp cho Việt Nam có thể tiếp cận được một số công nghệ lõi, công nghệ nguồn có yếu tố phương Tây, giúp cho Việt Nam có thể phát triển toàn bộ nền công nghiệp quốc phòng nội địa của Việt Nam hiện tại.  RFI Tiếng Việt xin chân thành cảm ơn nghiên cứu sinh Nguyễn Thế Phương, Đại học New South Wales, Úc.
    21/08/2023

À propos de Tạp chí Việt Nam

Những vấn đề, sự kiện đang được dư luận quan tâm ở Việt Nam
Site web du podcast

Écoutez Tạp chí Việt Nam, RMC Info Talk Sport ou d'autres radios du monde entier - avec l'app de radio.fr

Tạp chí Việt Nam

Tạp chí Việt Nam

Téléchargez gratuitement et écoutez facilement la radio.

Google Play StoreApp Store