Radio Logo
RND
Écoutez {param} dans l'application
Écoutez TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM dans l'application
(26.581)(171.489)
Sauvegarde des favoris
Réveil
Minuteur
Sauvegarde des favoris
Réveil
Minuteur
AccueilPodcastsInformations
TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Podcast TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM
Podcast TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

ajouter

Épisodes disponibles

5 sur 24
  • Tạp chí tiêu điểm - Căng thẳng eo biển Đài Loan và cuộc chiến tranh giành di sản « Ngày 10/10 »
    Ngày 10/10/2021 đánh dấu 110 năm cuộc Cách Mạng Tân Hợi 1911 tại Trung Quốc. Đó cũng là ngày thành lập Trung Hoa Dân Quốc (Republic of China – ROC), hay còn gọi là Đài Loan. Đối với Trung Quốc và Đài Loan, « Ngày hai số 10 » (double tenth day) còn là một diễn đàn quan trọng để chứng tỏ tính chính đáng của mỗi chế độ và cũng là dịp để báo hiệu cho một kỳ chính trị sắp tới từ bên này gởi đến bên kia. Cách Mạng Tân Hợi : Đảng Cộng sản Trung Quốc, người kế thừa hợp pháp ? Kể từ ngày bà Thái Anh Văn thuộc đảng Dân Tiến trở thành tổng thống Đài Loan năm 2016, chính sách về Đài Loan của Trung Quốc ngày một quyết đoán hơn, vừa sử dụng áp lực ngoại giao vừa tăng cường răn đe quân sự. Bốn ngày đầu tháng Mười năm nay là một minh chứng. Nhân dịp lễ mừng quốc khánh, Trung Quốc cho điều gần 150 chiến đấu cơ bay vào vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) của Đài Loan. Một con số kỷ lục chưa từng có. Đối với bà Gudrun Wacker, chuyên gia về châu Á, German Institute for International and Security Affairs, « nhát kiếm này của Trung Quốc là một thông điệp gởi đến Đài Loan, rằng nhìn vào cán cân sức mạnh giữa hai phía, thì việc đi đến thống nhất là điều tất yếu và sự phản kháng là vô nghĩa. » Nhưng vài ngày sau, nhà nghiên cứu Zhenze Huang, trên trang mạng The Diplomat ghi nhận bài diễn văn của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình « kỷ niệm 110 năm cuộc Cách Mạng Tân Hợi ngày 10/10/1911 » năm nay, có một giọng điệu đặc biệt chừng mực hiếm có, hạn chế đưa ra một hình ảnh diều hâu. Một mặt, Tập Cận Bình khẳng định chỉ có đảng Cộng sản Trung Quốc mới là người kế tục hợp pháp của cuộc cách mạng dân tộc do Tôn Trung Sơn khởi xướng. Mặt khác, ông cam kết thống nhất Đài Loan bằng « con đường hòa bình », trái với những lần tuyên bố trước đây cho rằng sẽ thống nhất Đài Loan bằng mọi giá kể cả « bằng sức mạnh quân sự ».   Điều gì khiến ông Tập Cận Bình thay đổi thái độ với Đài Bắc ? Giới quan sát cho rằng có nhiều lý do để giải thích. Thứ nhất, chiến lược hăm dọa quá đà của Bắc Kinh đã bị phản tác dụng. Sự việc đẩy người dân Đài Loan xa rời Hoa Lục hơn, cảm giác bài Trung Quốc tăng cao trong công chúng. Theo một thăm dò do Quỹ Tự do thực hiện, gần 77% số người được hỏi tự cho là « người Đài Loan », so với con số 7,5% cho mình là người Trung Quốc. Hơn nữa, chỉ có hơn 11% số người được thăm dò là ủng hộ « thống nhất », so với gần 47% chủ trương « độc lập cho Đài Loan » và 26,4% kêu gọi « duy trì nguyên trạng ». Thứ hai, chính sách hung hăng của Bắc Kinh đối với Đài Bắc cũng đã làm thổi bùng lên những phản ứng mạnh mẽ, và trong chừng mực nào đó đã bị quốc tế hóa. Nhiều nước châu Âu trước đây có lập trường trung lập nay bắt đầu thoát ra khỏi sự im lặng. Cụ thể, Litva là nước thành viên đầu tiên của Liên Hiệp Châu Âu đã cho lập « văn phòng đại diện » mang tên Đài Loan, khiến cho quan hệ hai nước trở nên căng thẳng. Paris gần đây còn gởi một phái đoàn nghị sĩ đến thăm Đài Bắc. Dù vậy, nhà nghiên cứu Đông Bắc Á, Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược (FRS) trên đài ARTE lưu ý trong mọi trường hợp điều đó không có nghĩa là Liên Hiệp Châu Âu có mối quan hệ bang giao với Đài Loan, công nhận Đài Loan, và có thể can thiệp quân sự khi có xung đột. Bởi vì, theo nhà nghiên cứu, « năng lực quân sự của Liên Hiệp Châu Âu và nhiều nước thành viên cực kỳ thấp. Ngoại trừ Pháp, không một nước nào có thể triển khai lực lượng quân đội xa đến như vậy. (…) Trong vụ việc này, Liên Hiệp Châu Âu giữ một vai trò để can ngăn Trung Quốc và dự báo một cuộc xung đột. » Yếu tố thứ ba là đến từ Washington. Ông Zhenze Huang nhắc lại ngày 06/10/2021, cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan đã có cuộc gặp với lãnh đạo ngoại giao cao cấp nhất của Trung Quốc là ông Dương Khiết Trì, ủy viên Bộ Chính Trị, chánh văn phòng phụ trách đối ngoại TW đảng Cộng Sản Trung Quốc tại Zurich, Thụy Sĩ. Không như lần gặp thứ nhất tại Alaska hồi tháng Ba năm nay, lần này đôi bên đã có những cuộc « trao đổi đầy đủ, thẳng thắn và sâu rộng » về nhiều vấn đề liên quan đến những lợi ích chung của cả hai nước. Kết quả của cuộc gặp là lãnh đạo hai nước sẽ có cuộc họp thượng đỉnh trực tuyến từ đây đến cuối năm 2021. Trong đà tích cực đó, bộ Tư Pháp Mỹ đúc kết một thỏa thuận liên quan đến bà Mạnh Vãn Châu, giám đốc tài chính của Hoa Vi, từng bị cáo buộc có gian lận. Mạnh Vãn Châu được về nước mà không bị kết tội. Đối đầu quân sự Trung – Đài : Một thất bại ngoại giao của Mỹ ? Hơn nữa, Bắc Kinh dường như cũng đã có được một số nhượng bộ, cam kết từ phía Washington, vốn dĩ cũng muốn hạ nhiệt căng thẳng, duy trì sự ổn định tại vùng Đông Á. Chính quyền Biden không thể gánh lấy rủi ro đối đầu quân sự, vì đó cũng là một thất bại ngoại giao trong chiến lược mơ hồ của Hoa Kỳ đối với Đài Loan. Theo ông Zhenze Huang, Washington dường như đã đưa ra điều kiện tiên quyết là Bắc Kinh nên kềm chế không kích động xung đột. Ở một khía cạnh nào đó, Bắc Kinh và Washington đã đạt được một thỏa thuận ngầm về Đài Loan. Về điểm này, nữ chuyên gia người Đức Gudrun Wacker trên kênh truyền hình quốc tế Deutch Well của Đức, có giải thích thêm như sau : « Hoa Kỳ có nghĩa vụ chính thức là giúp Đài Loan tự vệ. Chính nhờ điều này mà mối quan hệ với Đài Loan được tồn tại. Mỹ với sự mơ hồ chiến lược của mình, luôn để ngỏ việc liệu họ có can thiệp hay không vì điều đó phụ thuộc vào kịch bản mà chúng ta đang thấy. Họ cố tình làm như vậy không phải để khuyến khích tinh thần hăng hái của phía Đài Loan. "Tuyên bố độc lập, Hoa Kỳ sẽ hỗ trợ chúng tôi, điều đó được đảm bảo". Hoa Kỳ không muốn gửi thông điệp ấy nhưng họ cũng cố gắng gửi một lời bảo đảm cho cả hai bên, nhất là với phía Trung Quốc, rằng họ thực sự không ủng hộ nền độc lập của Đài Loan và do đó, có một trò chơi mơ hồ và đảm bảo ở đây. » Đối nội và quan hệ xuyên eo biển : Cuộc đánh cược của Thái Anh Văn Ngược lại, ở phía bên kia eo biển, tổng thống Thái Anh Văn lại có bài phát biểu cứng rắn nhất trong « Ngày hai số 10 » đó. Ở cấp độ quốc tế, Thái Anh Văn nhấn mạnh đến tầm quan trọng hợp tác lẫn nhau với các nền dân chủ và nhiều tổ chức đa phương khác, bao gồm « G7, NATO, Liên Hiệp Châu Âu », để duy trì « hòa bình và an ninh tại eo biển Đài Loan ». Trong quan hệ xuyên eo biển, tổng thống Đài Loan đặc biệt nhiều lần nhắc đến con số 72 kể từ khi Trung Hoa Dân Quốc phải chạy sang đảo Đài Loan. Khi nói nhiều đến « 72 năm » hơn là « 110 năm », bà Thái Anh Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc Cách Mạng Tân Hợi đối với sự ra đời của Trung Hoa Dân Quốc và làm nổi bật lịch sử của Trung Hoa Dân Quốc. Trong bài phát biểu, tổng thống Đài Loan đưa ra bốn cam kết : Duy trì một hệ thống hiến pháp tự do và dân chủ, Trung Hoa Dân Quốc và Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa không phục tùng lẫn nhau, Kiên quyết bảo vệ quyền chủ quyền của Đài Loan, và Tương lai của Trung Hoa Dân Quốc phải được quyết định theo ý nguyện của người dân Đài Loan. Nói một cách ngắn gọn, bài phát biểu của Thái Anh Văn mang hơi hướm của một phiên bản được nâng cấp về « mối quan hệ đặc biệt giữa Nhà nước với Nhà nước », như cố tổng thống Lý Đăng Huy từng đề xướng. Theo phân tích của nhà nghiên cứu Zhenze Huang, bài diễn văn này nhắm đến nhiều mục tiêu. Thứ nhất là nhằm củng cố vai trò lịch sử hàng đầu của phong trào đòi ly khai Đài Loan. Thứ hai, khi bằng cách đưa ra những yêu sách rõ ràng trong các vấn đề xuyên eo biển, Thái Anh Văn còn muốn mở rộng ảnh hưởng chính trị của đảng Dân Tiến (DDP) trong đời sống chính trị Đài Loan. Do đó, cử chỉ này của bà Thái Anh Văn còn nhằm tối đa hóa số phiếu bầu cho đảng Dân Tiến bằng cách kích động tình cảm chống Trung Quốc và gây áp lực lên Quốc Dân Đảng, vốn dĩ luôn có lập trường không rõ ràng trong mối quan hệ xuyên eo biển Đài Loan.   Về điểm này, nhà nghiên cứu chuyên gia Gudrun Wacker còn đưa ra một luận điểm thứ ba : Đó còn là một thông điệp gởi đến Hoa Kỳ. « Không chỉ vì các lý do chính trị trong nước và một tín hiệu cho Trung Hoa đại lục mà còn là một thông điệp cho Hoa Kỳ. Washington đôi khi nghi ngờ về khả năng Đài Loan thực sự sẵn sàng tự vệ. Bà ấy buộc phải có một lập trường cứng rắn. Tôi nghĩ họ không để bà Thái Anh Văn một lựa chọn nào nhưng bà ấy cũng sẽ không lèo lái mọi việc tiến triển đi đến hướng "chúng tôi tuyên bố độc lập" ». Dẫu sao thì luôn có một câu hỏi được đặt ra : Từ 30 năm qua, Bắc Kinh không ngừng hiện đại hóa quân đội với mục tiêu đầu tiên là nhắm vào hòn đảo ly khai. Xét về mặt tương quan lực lượng, Trung Quốc sẽ làm được điều này. Nếu xảy ra xung đột thật sự, Đài Loan có thể đẩy lùi một cuộc đổ bộ từ Trung Quốc hay không ? Nhà nghiên cứu Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên cứu và Chiến lược (FRS), cho rằng Bắc Kinh trước hết phải có được lời giải cho bài toán : Cái giá nhân mạng cho một chiến dịch quân sự như vậy là bao nhiêu ? Bởi vì, một trong những chiến lược của Đài Bắc là khiến Bắc Kinh phải trả một giá nhân mạng rất cao nếu tiến hành một cuộc chiến tranh chiếm đảo. « Bởi vì, Đài Loan có năng lực phòng thủ, có hệ thống phòng không, nhất là hệ thống chống tầu chiến. Hiện tại, trong tương quan lực lượng cho dù Trung Quốc có lợi thế, nhưng bất lợi cũng không hẳn nghiêng về Đài Loan. Điều đó không chỉ mang tính quân sự mà còn có cả vấn đề xã hội. Chiến lược của Đài Loan ngày nay là thể hiện rõ sự "bất diệt" với xã hội Trung Quốc ». Cuối cùng, nhà nghiên cứu người Pháp lưu ý thêm, « ở đây còn có một điểm quan trọng : Đài Loan là một mô hình phản biện, đó là một xã hội đậm chất văn hóa Trung Quốc nhưng đã tự thân dân chủ hóa, chứ không phải bằng một sự can thiệp từ bên ngoài. Điều này đối với đảng Cộng Sản Trung Quốc là không thể chấp nhận ! »
    10/21/2021
    9:35
  • Tạp chí tiêu điểm - Tăng cường kho vũ khí chiến lược, Bình Nhưỡng đe dọa liên minh Mỹ - Hàn ?
    Ngày 04/10/2021, đường dây nóng giữa Bắc Triều Tiên và Hàn Quốc đã được nối lại sau một loạt vụ thử tên lửa của Bình Nhưỡng trong tháng Chín. Bắc Triều Tiên gần đây tuyên bố cởi mở đối thoại với Hàn Quốc, nhưng đồng thời lại từ chối đề nghị « nói chuyện » với Hoa Kỳ. Chế độ Bình Nhưỡng đang tính gì ? Làm thế nào giải thích những sự kiện đó ? Bắc Triều Tiên có những chiến lược gì trên trường quốc tế ? Bốn chiếc tên lửa và một đường dây nóng Giới quan sát đều có chung một nhận định : Việc giới chức quân sự hai miền Nam – Bắc giờ có thể nói chuyện lại với nhau mỗi sáng và tối, là một tin tốt lành. Kể từ giờ Bình Nhưỡng chấp nhận nhấc điện thoại khi quân đội Hàn Quốc ở phía bên kia đường ranh khu phi quân sự gọi điện cho các đồng nhiệm phía Bắc. Đối với nhà nghiên cứu về Đông Bắc Á, Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên Cứu Chiến Lược (FRS), cử chỉ này mang một ý nghĩa biểu tượng mạnh bởi vì Bắc Triều Tiên đang gởi đi thông điệp là nước này sẵn sàng nối lại đối thoại với Hàn Quốc. « Có hai điểm đáng chú ý : Thứ nhất, đó là vẫn còn có một kênh liên lạc cho các cơ quan tình báo giữa hai miền Nam – Bắc. Thứ hai, vấn đề thật sự được đặt ra không còn phải chờ xem Bắc Triều Tiên có nhấc điện thoại hay không, Bình Nhưỡng sẽ thực hiện điều này hai lần trong ngày buổi sáng và chiều tối, mà là biết được nội dung mà Bắc Triều Tiên cần thảo luận với Hàn Quốc. » (France Culture) Cử chỉ này được Bình Nhưỡng đưa ra sau một tháng Chín đầy căng thẳng. Bắc Triều Tiên liên tiếp thông báo thử nghiệm thành công bốn loại tên lửa : Một tên lửa đạn đạo bắn đi từ một tầu lửa. Một tên lửa hành trình có khả năng bay ở độ cao thấp để đánh lừa ra-đa đối phương. Rồi một quả tên lửa phòng không mới. Và gần đây nhất là một tên lửa siêu thanh có khả năng bay xuyên hành tinh ở Mach 5 (tức khoảng 6.100km/giờ). Với thành công sau cùng này, chế độ Kim Jong Un khẳng định gia nhập được câu lạc bộ các cường quốc rất khép kín, có khả năng thử nghiệm những loại tên lửa mới bay ở Mach 5 (một km/giây). Một cựu chuyên gia quân sự ở Seoul trả lời báo Le Figaro lưu  ý : « Thử nghiệm là một chuyện nhưng việc triển khai trên quy mô lớn các loại vũ khí mới còn là một chuyện khác. Bắc Triều Tiên đang phô trương ». Hiện tại giới chuyên gia chưa thể kiểm chứng tính xác thực của thông tin trên từ bên ngoài. Nhưng theo giải thích của nhà báo Dorian Malovic, trưởng ban châu Á nhật báo Công giáo La Croix, chuyên gia về Bắc Triều Tiên, thì mối bận tâm của giới quan sát tập trung vào một điểm khác. « Điều đáng chú ý cho các nhà quan sát là không phải muốn biết chiếc tên lửa này có thể bay với tốc độ trên 4.000km/giờ hay không mà là muốn tìm hiểu xem chúng được đổ đầy nhiên liệu như thế nào. Đó là nhiên liệu lỏng theo truyền thống ? Hay là Bắc Triều Tiên đã làm chủ được công nghệ nhiên liệu rắn, dễ vận chuyển hơn, có nghĩa là chiếc tên lửa này có thể vận chuyển khắp nơi, do vậy khó định vị hơn ? » Có thể nói, Bắc Triều Tiên giờ mỗi lúc một hoàn thiện hơn trong kỹ thuật dẫn hướng, xác định mục tiêu và sử dụng nhiên liệu cho các loại tên lửa bất kể đó là tên lửa hành trình, đạn đạo hay là siêu thanh. Để rồi từ đó đi đến một mục tiêu tối hậu là một ngày nào đó sẽ cho thử nghiệm tên lửa liên lục địa bắn đi từ tầu ngầm. Theo quan sát của chuyên gia Antoine Bondaz, đây thật sự là một mối đe dọa lớn cho chiến lược phòng thủ của Hàn Quốc trong dài hạn. Cho dù từ tháng 9/2017, Bắc Triều Tiên tuy không tiến hành một vụ thử hạt nhân hay tên lửa tầm xa nào, nhưng sự việc cho thấy quốc gia khép kín này vẫn theo đuổi một chương trình hạt nhân và đạn đạo nhằm tăng cường năng lực quân sự.  « Điều đáng lo ở đây là không những Bắc Triều Tiên tiếp tục sản xuất các vật liệu phân hạch và tập hợp những nguyên liệu này để sản xuất vũ khí, mà nước này còn theo đuổi chương trình đạn đạo tầm ngắn, và nhất là một chương trình tên lửa tầm ngắn cực kỳ năng động, đặt ra một thách thức thật sự cho chính sách phòng thủ của Hàn Quốc trong dài hạn. Bởi vì, Bắc Triều Tiên phát triển những loại tên lửa có độ chính xác cao hơn trước rất nhiều. Những loại tên lửa có một quỹ đạo rất đặc biệt, nhất là đường quỹ đạo lõm khiến hệ thống phòng thủ khó thể bắn chặn. Đây quả thật là một đe dọa thêm cho các căn cứ quân sự của Mỹ và Hàn Quốc. » Trường đoạn « Yêu, không Yêu » Dù vậy, nhiều nhà quan sát cũng cho rằng Bắc Triều Tiên đang « khua chiêng gõ trống ». Bằng chứng cụ thể là chế độ Bình Nhưỡng chưa vượt qua lằn ranh đỏ, thử nghiệm tên lửa đạn đạo có khả năng đi tới lãnh thổ Hoa Kỳ. Hiện tại, Bắc Triều Tiên tiến hành kiểu « chiến lược », một mặt, tăng cường năng lực quân sự, tạo thế mạnh trong các cuộc đàm phán. Mặt khác, tuy hé mở cánh cửa đối thoại với Hàn Quốc, nhưng lại từ chối đối thoại với Hoa Kỳ. Trên đài RFI, nhà báo Dorian Malovic nhắc lại rằng trường đoạn « Yêu, Không Yêu » là màn kịch muôn thuở của Bắc Triều Tiên dành cho người anh em phía Nam. « Tất cả những điều đó đều nằm trong chiến lược được Bình Nhưỡng điều khiển rất tài tình bởi vì Bắc Triều Tiên biết cách sử dụng « đồng minh » Hàn Quốc – tôi nói là đồng minh khi Bình Nhưỡng thấy cần thiết. Bắc Triều Tiên hiểu rằng vào lúc này tổng thống Hàn Quốc cần có các kết quả trong chính sách đối ngoại với phía Bắc. Bởi vì tháng 3/2022, Hàn Quốc tổ chức bầu tổng thống mới, trong khi chính sách xích lại gần với Bắc Triều Tiên chưa cho kết quả rõ ràng, và người dân Hàn Quốc cũng không mấy gì hài lòng trên phương diện kinh tế. » Kể từ sau thất bại thượng đỉnh Hà Nội năm 2019, hồ sơ hạt nhân Bắc Triều Tiên hầu như rơi vào bế tắc. Những nỗ lực « chìa bàn tay thân thiện » từ tổng thống Moon Jae In, khi kêu gọi đưa ra một tuyên bố chung chấm dứt chiến tranh, dù chỉ là một tuyên bố mang tính chính trị, đều không được hưởng ứng. Seoul muốn đi đến một chế độ hòa bình để rồi từ đó khởi động các cuộc đàm phán và như vậy bốn nước Trung Quốc, Hoa Kỳ, Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên có thể đi đến một hiệp định hòa bình cho bán đảo Triều Tiên, về mặt kỹ thuật vẫn trong tình trạng chiến tranh từ gần 60 năm qua. Vậy lần này Bình Nhưỡng muốn gì khi lại chơi trò « vừa đấm, vừa xoa » với Seoul ? Trưởng ban châu Á tờ La Croix phân tích tiếp : « Bắc Triều Tiên hiểu rõ là với người anh em phía Nam, họ có thể duy trì những đề nghị "đường mật". Bắc Triều Tiên biết là Hàn Quốc sẽ luôn đáp trả, chỉ cần một cử chỉ chìa tay là Hàn Quốc sẽ bắt lấy ngay, đến mức Seoul muốn xích lại gần hơn, muốn có những tiến bộ nhiều hơn, có những trao đổi mậu dịch cho dù cả hai phía đều khẳng định muốn có hiệp định hòa bình . (…) Việc Bắc Triều Tiên sử dụng Hàn Quốc bằng những đề nghị "nóng bỏng" là một chuyện, nhưng mặt khác, Bình Nhưỡng cũng hiểu rõ là Seoul sẽ chẳng làm được gì nếu như đồng minh Mỹ không bật đèn xanh. Ngược lại Hàn Quốc cũng cho rằng Bình Nhưỡng sẽ không gởi tên lửa xuống phía nam. Đương nhiên, chỉ còn lại Nhật Bản là cảm thấy lo lắng vì là nước láng giềng nhưng không phải là dân tộc Triều Tiên. » Hiểm họa chạy đua vũ trang Về phần mình, nhà nghiên cứu Đông Bắc Á thuộc Quỹ FRS nhận định những mong mỏi này của tổng thống Moon khó thể mà thực hiện do việc đôi bên đều trông đợi bên kia đưa ra những tín hiệu cụ thể. Washington và Seoul muốn trông thấy có những bước đi phi hạt nhân hóa cụ thể. Còn Bắc Triều Tiên muốn Hoa Kỳ và Hàn Quốc chấm dứt điều mà Bình Nhưỡng từ nhiều năm qua gọi là « chính sách thù nghịch ». Đối với hai bên, đây là những chiếc chìa khóa chính mở cổng cho các cuộc thương lượng. Antoine Bondaz giải thích : « Điều này thực sự phức tạp nếu nhìn từ quan điểm của Bình Nhưỡng do việc mối quan hệ đồng minh Mỹ - Hàn không ngừng tăng cường. Cũng đừng quên rằng mới đây Hàn Quốc còn cho thử nghiệm thành công một loại tên lửa hải đối địa, nghĩa là một loại tên lửa đạn đạo, về mặt kỹ thuật, có thể được phóng đi từ tầu ngầm hay như thử các loại tên lửa tầm trung nặng hàng tấn. Bắc Triều Tiên cho rằng "mối đe dọa" đến từ Hàn Quốc và Hoa Kỳ vẫn dai dẳng. Hơn nữa cũng phải nhìn nhận là từ nhiều năm qua, người ta vẫn chưa thấy có một bước đột phá nào trong ngoại giao. Năm 2018, người ta hy vọng rất nhiều khi Bắc Triều Tiên quyết định tham gia Thế Vận Hội Mùa Đông, thượng đỉnh Liên Triều, thượng đỉnh Singapore nhưng kể từ kỳ thượng đỉnh Hà Nội năm 2019, giữa tổng thống Trump và lãnh đạo Kim Jong Un, tất cả các cuộc đàm phán đều bị ngưng lại. » Giờ đây, trong bối cảnh quan hệ Mỹ - Trung mỗi lúc một căng thẳng, nguy cơ chạy đua trang bị vũ khí mỗi lúc một gia tăng nhất là với thông báo thành lập liên minh quân sự AUKUS quy tụ ba nước Anh, Úc và Mỹ tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên có nguy cơ bùng lên gay gắt khi Hàn Quốc gần đây lại bày tỏ nguyện vọng sở hữu tầu ngầm nguyên tử. Vẫn theo chuyên gia Antoine Bondaz, điều quan trọng là phải có một cơ chế để tái khởi động các cuộc đàm phán đó và để thuyết phục Bắc Triều Tiên phải giảm dần một cách bền vững các căng thẳng trên bán đảo cũng như là phải có những biện pháp rõ ràng nhằm hạn chế chương trình đạn đạo và hạt nhân của Bình Nhưỡng. Đương nhiên, đối với Hàn Quốc, đây thật sự là một điều cực kỳ phức tạp bởi vì nước này không có một đòn bẩy nào như là Hoa Kỳ đang có !
    10/14/2021
    10:06
  • Tạp chí tiêu điểm - Trung Quốc leo thang hăm dọa, trắc nghiệm sức bền của người dân Đài Loan
    Gần 150 chiến đấu cơ, trong đó có một chiếc oanh tạc cơ có khả năng mang đầu đạn hạt nhân của Trung Quốc trong vòng bốn ngày liên tiếp từ ngày 01-04/10/2021, đã xâm nhập vùng nhận dạng phòng không của Đài Loan. Một hành động hăm dọa hay tín hiệu khởi đầu một cuộc xâm chiếm đảo ? Chưa có lúc nào tình hình ở eo biển Đài Loan lại đen tối như lúc này. Tổng thống Thái Anh Văn trong một diễn đàn đăng trên tờ Foreign Affairs cảnh báo : Nếu hòn đảo rơi vào tay Trung Quốc, điều đó sẽ mang lại hậu quả « thảm khốc » cho châu Á. Bộ trưởng Quốc Phòng Đài Loan Khâu Quốc Chinh (Chiu Kuo-cheng) ngày 06/10/2021 cũng phải lên tiếng báo động căng thẳng hai bờ eo biển ở mức chưa từng có từ hơn 40 năm nay, và Bắc Kinh có đủ phương tiện để xâm chiếm « toàn bộ » hòn đảo vào năm 2025. Bắc Kinh muốn gì khi đột ngột leo thang căng thẳng quân sự ? Liệu chiến tranh Trung – Đài có xảy ra hay không ? Đài Loan phải làm gì trong bối cảnh hiện nay ? Và đâu là những nguồn hậu thuẫn cho Đài Bắc ? Trả lời RFI Tiếng Việt, nhà nghiên cứu về Đông Á, Antoine Bondaz, Viện Nghiên Cứu Chiến Lược FRS, cho rằng Trung Quốc có nhiều khả năng tiến hành cuộc chiến tiêu hao, trắc nghiệm hệ thống phòng thủ, sức bền của người dân Đài Loan và phản ứng của cộng đồng quốc tế nhất là từ Mỹ cùng các đồng minh. ********** RFI Tiếng Việt : Trong bốn ngày liên tiếp, Trung Quốc điều gần 150 chiến đấu cơ đi vào vùng nhận diện phòng không của Đài Loan. Làm thế nào giải thích một con số kỷ lục như vậy ? Tại sao Trung Quốc lại có chiến dịch quân sự đó vào thời điểm này ? Antoine Bondaz : Những gì diễn ra với Đài Loan những ngày vừa qua là chưa từng có. Chưa bao giờ Trung Quốc điều ngần ấy chiến đấu cơ trong một quãng thời gian ngắn ngủi như vậy : Gần 150 máy bay quân sự chỉ trong vòng 4 ngày. Nếu so với tháng 7 và 8, có chưa tới 30 chiến đấu cơ mỗi tháng. Riêng ngày 04/10 là có đến 56 máy bay chỉ trong vòng một ngày, còn nhiều hơn cả so với phần lớn thời gian là trong một tháng. Thời điểm được chọn khá quan trọng. Tôi nghĩ là có nhiều sự kiện để giải thích. Thứ nhất, đó là ngày Quốc Khánh nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mồng 01 tháng Mười. Một hình thức nào đó, Trung Quốc muốn biểu dương sức mạnh tinh thần dân tộc. Tổng biên tập tờ Global Times, cách nay vài hôm tuyên bố : "Cuộc diễu binh năm nay đã được dời sang eo biển Đài Loan". Đây còn là một thông điệp gởi đến cho toàn thể người dân Trung Quốc. Một sự kiện quan trọng khác chính là cuộc tập trận chung ngoài khơi Okinawa giữa Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, Anh Quốc, Canada, và Hà Lan. Cuộc tập trận quy tụ hai chiếc hàng không mẫu hạm Mỹ, một tầu sân bay Anh, một tầu sân bay trực thăng Nhật Bản. Như vậy, đây cũng là một cuộc biểu dương lực lượng của Mỹ nhưng là ở phía bên kia chuỗi đảo Okinawa. Có thể nói, đây là hai sự kiện quan trọng giải thích vì sao có những hành động phô trương sức mạnh dữ dội như vậy vào đầu tháng 10 này.  Nhưng ngày 10/10 sắp tới đây cũng là một ngày quan trọng đối với Đài Loan. Phải chăng đó cũng là lý do để giải thích cho hành động hung hăng này của Trung Quốc ? Antoine Bondaz : Đúng vậy, ngày 10/10 tới đây là ngày lễ lớn của Trung Hoa Dân Quốc, đó là ngày quốc khánh của Đài Loan. Người ta có thể đoán là "sẽ có một cuộc biểu dương sức mạnh mới từ Trung Quốc". Hôm nay, còn có 1-2 chiếc máy bay quân sự Trung Quốc đi vào vùng nhận diện phòng không của Đài Loan, chúng ta có thể nghĩ là từ đây đến Chủ Nhật sẽ có nhiều hơn nữa. Tuy nhiên, phía Trung Quốc sẽ gặp khó khăn hơn, cơ hội để thực hiện các chiến dịch này cũng đang khép lại do điều kiện thời tiết, như vậy số chiến đấu cơ trung bình được điều đến trong mùa đông sẽ ít hơn vào mùa hè. Chỉ có điều, Trung Quốc ngày càng tỏ ra hung hăng hơn kể từ khi Tập Cận Bình lên cầm quyền từ năm 2012 ? Antoine Bondaz : Chúng ta nhận thấy có một sự gia tăng áp lực từ Trung Quốc, bất kể là quân sự, ngoại giao và kinh tế đối với đảo Đài Loan, nhất là kể từ năm 2016 khi bà Thái Anh Văn thuộc đảng Dân Tiến đắc cử tổng thống. Chúng ta thấy rõ trên bình diện ngoại giao, Trung Quốc có một chính sách ngoại giao hung hăng, tìm cách cô lập Đài Loan trên trường quốc tế như ngăn cản Đài Bắc tham dự với tư cách là quan sát viên thuộc Tổ chức Y Tế thế giới hay như là thành viên Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế. Trung Quốc còn tìm cách ép buộc nhiều nước cắt đứt bang giao với Đài Loan như Panama, đảo quốc Salomon ở Thái Bình Dương. Trung Quốc còn gây áp lực kinh tế với Đài Loan thông qua các biện pháp trừng phạt, hoặc một cách gián tiếp như hạn chế dòng du khách Trung Quốc, hay tăng mức áp thuế đối với nhiều sản phẩm nông nghiệp của Đài Loan như trái cây. Cuối cùng là áp lực trên bình diện quân sự, một cách cụ thể là thông qua việc gia tăng các chiến dịch xâm nhập ADIZ của Đài Loan. Thái độ hung hăng này của Bắc Kinh liệu có phải còn do gần đến thời hạn 2049, năm kỷ niệm 100 năm ngày lập quốc. Đài Loan được cho là « mảnh ghép còn thiếu » trong « giấc mộng Trung Hoa » của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ? Antoine Bondaz : Thật vậy, từ năm 1949, năm thành lập nước, Trung Quốc không ngừng tìm cách hợp nhất Đài Loan với Hoa lục. Hòn đảo tự trị này là một vùng lãnh thổ còn lại mà Trung Quốc cho tới giờ vẫn chưa kiểm soát được. Do vậy, thời điểm 2049 đương nhiên vẫn là mục tiêu xa xôi cho các nhà hoạch định chính sách Trung Quốc. Dù vậy, ông Tập Cận Bình nhiều lần nhắc đến và luôn cho rằng từ đây cho đến một thế hệ nữa, cần phải có một giải pháp cho vấn đề Đài Loan, nghĩa là sáp nhập Đài Loan bằng vũ lực hay không vào lãnh thổ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hơn nữa, người ta nhận thấy có một sự thay đổi về chiến lược từ phía Trung Quốc. Họ cho rằng Đài Loan đang tìm cách thay đổi nguyên trạng, bởi vì tổng thống Thái Anh Văn không nhìn nhận đồng thuận 1992, một đồng thuận mà Bắc Kinh cho rằng phải chi phối mối quan hệ đôi bờ eo biển Đài Loan. Trong tình cảnh Trung Quốc mỗi lúc một hung hăng, liệu chiến tranh Trung – Đài có sẽ nổ ra ? Antoine Bondaz : Tôi nghĩ rằng rủi ro chiến tranh toàn diện giữa Đài Loan và Trung Quốc trong ngắn hạn vẫn rất hạn chế dù rằng Bắc Kinh không ngừng gia tăng khiêu khích, nhưng những hành động này vẫn rất được cân nhắc, có chừng mực bởi vì cho đến lúc này Trung Quốc vẫn chưa đi vào vùng không phận của Đài Loan mà chỉ ở ADIZ. Đó là vùng không gian do Đài Bắc đơn phương tuyên bố, đó không phải là một khoảng cách hợp pháp, theo pháp lý. Phía Trung Quốc rõ ràng có ý muốn xem xét lại nguyên trạng và do vậy Trung Quốc luôn tìm cách khiêu khích gây ra sự cố như xâm nhập vào vùng không phận cách nay vài năm, cũng có thể có khả năng tiến hành một dạng bán phong tỏa một số đảo, cản trở các hoạt động thăm dò khai thác dầu khí của Đài Loan như quần đảo Đông Sa ở Biển Đông. Tóm lại, Trung Quốc sẽ tiếp tục trắc nghiệm Đài Loan, trắc nghiệm khả năng phòng thủ, thử sức bền và lòng quyết tâm bảo vệ đảo của người dân Đài Loan, cũng như là thăm dò phản ứng của cộng đồng quốc tế. Chính vì vậy là các nước Hoa Kỳ, Nhật Bản, Úc, hay Liên Hiệp Châu Âu có một vai trò quan trọng cần nắm giữ, nhất là về phía Liên Âu. Vai trò này khá là quan trọng không phải để can thiệp trong trường hợp có xung đột vì châu Âu không có khả năng quân sự trong khu vực - nhưng cho phép dự báo một cuộc xung đột có thể xảy ra, do vậy Liên Hiệp Châu Âu cần phải nỗ lực nhiều hơn. Trước những hành động mỗi lúc một hung hăng trong khu vực, và đà đi lên thành cường quốc của Bắc Kinh, người ta nhận thấy Tokyo giờ không còn ngần ngại công khai hậu thuẫn Đài Bắc. Vì sao Nhật Bản lại có sự thay đổi thái độ như vậy ? Liệu sự hậu thuẫn này có mang lại những rủi ro nào cho Nhật Bản hay không ? Antoine Bondaz : Rõ ràng là ngày nay có nhiều nước bày tỏ trực tiếp mối quan ngại của họ và kêu gọi duy trì ổn định và hòa bình tại eo biển Đài Loan. Những cử chỉ này đúng là một « điều mới ». Mới là vì nước Pháp đã ký vào thông cáo chung của G7 đề cập đến sự ổn định và hòa bình tại eo biển Đài Loan. Mới cũng vì Nhật Bản, theo cách công khai, đã ký vào thông cáo chung với Mỹ, bày tỏ sự gắn kết, kêu gọi một sự ổn định cho khu vực. Mới cũng là vì lần đầu tiên Liên Hiệp Châu Âu trong dự thảo chiến lược hợp tác châu Á – Thái Bình Dương có đề cập một cách công khai đến sự ổn định của eo biển Đài Loan, và cũng là một trong số ưu tiên của Bruxelles. Về điểm này, đúng là có những cử chỉ mới từ phía quốc tế đối với Đài Loan. Nhưng về phía Nhật Bản, tình hình phức tạp hơn. Nếu như chiến tranh xảy ra với Đài Loan, lực lượng phòng vệ Nhật Bản sẽ bị ảnh hưởng trước tiên trên bình diện an ninh, binh sĩ Mỹ đóng tại Nhật Bản có thể sẽ được huy động. Vì lợi ích của mình, Nhật Bản ít nhiều gì phải hậu thuẫn trực tiếp Đài Loan. Nếu như ngày mai Đài Loan bị quân đội Giải Phóng Nhân Dân Trung Quốc chiếm đóng, điều đó sẽ làm thay đổi hoàn toàn thế cân bằng địa chính trị, và môi trường an ninh Nhật Bản. Do vậy, Tokyo chỉ được lợi khi nguyên trạng này được duy trì. Trong hoàn cảnh này, Đài Bắc phải làm gì để đối phó với sức ép ngày càng lớn từ Bắc Kinh ? Antoine Bondaz : Hiện tại, chiến lược của Đài Loan là vẫn giữ thái độ ôn hòa. Nghĩa là chúng ta sẽ không có một chính phủ, ví dụ như công khai đi Mỹ, đây vẫn là một chủ đề nhạy cảm, như đã từng làm cách nay 15 năm, khi ông Trần Thủy Biển còn cầm quyền. Chính phủ Dân Tiến hiện nay tìm cách giữ thế nguyên trạng. Trên thực tế Đài Loan là một Nhà Nước độc lập, xã hội Đài Loan là một xã hội dân chủ, đương nhiên, họ cũng mong muốn bảo vệ những lợi ích và các giá trị của mình. Về phía Đài Loan, ngày nay họ có nhiều giải pháp. Điều trước tiên là phải tăng cường năng lực phòng thủ. Đài Loan hiện có chương trình tự phát triển tầu ngầm theo quy ước. Việc phối hợp và hợp tác với Hoa Kỳ như trong việc mua vũ khí và hệ thống phòng thủ vẫn được tiếp tục. Rồi Đài Loan cũng nỗ lực tiếp cận với phần còn lại của cộng đồng quốc tế, không phải để họ hậu thuẫn đảo trên bình diện chính trị hay quân sự, mà là để Liên Hiệp Châu Âu, Nhật Bản, hay Úc ý thức được rằng nếu ngày mai có một cuộc xung đột ở eo biển Đài Loan, chắc chắn là sẽ có nhiều vấn đề phải đối mặt. Tuần này, Pháp gởi một phái đoàn nghị sĩ đến thăm Đài Loan. Trong hồ sơ này, Paris có thể làm được gì cho Đài Bắc ? Antoine Bondaz : Quả thật, phạm vị hành động của Pháp rất hạn hẹp. Tình thế của Pháp hiện giờ không giống như đầu những năm 1990, vào thời đó, Paris có thể cung cấp cho Đài Loan các hệ thống phòng thủ, tầu tuần tra, chiến đấu cơ Mirage 2000… Nhưng điều đó cũng không có nghĩa là Pháp không có một « đòn bẫy » nào. Pháp vẫn có những lá chủ bài ở cấp độ Liên Hiệp Châu Âu, ở Hội Đồng Bảo An để có một tiếng nói, tiếng nói của Liên Hiệp Châu Âu, nghĩa là việc duy trì sự ổn định  tại vùng eo biển Đài Loan này là cực kỳ quan trọng. Nếu ngày mai, Trung Quốc khơi ngòi cuộc chiến, sự việc sẽ có những tác động tiêu cực cho Liên Âu. Tôi cho rằng nước Pháp nên tỏ ra có sự gắn kết trong những tuyên bố công khai. Chúng ta thấy rõ là những tháng gần đây, việc áp dụng chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương của Pháp đã được cập nhật vào tháng 7/2021. Chỉ có điều trong bản chiến lược này vấn đề an ninh được đề cập đến nhưng lại không có một tham chiếu nào nhắc đến tình hình eo biển Đài Loan. Đây thật sự là một vấn đề về sự gắn kết, bởi vì nước Pháp chấp nhận nói đến vấn đề này trong nội bộ Liên Hiệp Châu Âu, với nước Úc một cách công khai nhưng Paris lại không nói đề cập đến vấn đề này một cách đơn phương trong các tài liệu chính thức, do vậy ngày nay đặt ra các vấn đề.  RFI Tiếng Việt cảm ơn nhà nghiên cứu Antoine Bondaz, Quỹ Nghiên cứu Chiến lược FRS.
    10/7/2021
    11:57
  • Tạp chí tiêu điểm - Khủng hoảng tầu ngầm : Vì sao nước Pháp « đơn độc » tại châu Âu ?
    Hợp đồng bị phá vỡ, niềm tin cũng tan rã. Paris bị sỉ nhục, nhưng Pháp lại không có đồng minh. Thông báo phá vỡ hợp đồng mua tầu ngầm Pháp của Úc và việc thành lập liên minh AUKUS đã châm ngòi cho một cuộc khủng hoảng ngoại giao chưa từng có giữa Pháp và các đồng minh lâu đời. Thế nhưng, Paris chỉ nhận được một sự ủng hộ dè dặt từ phía Liên Hiệp Châu Âu. Điều đáng chú ý là phải mất đến nhiều ngày sau, Liên Hiệp Châu Âu mới lên tiếng bày tỏ sự ủng hộ đối với Pháp. Nếu như Paris có những lời lẽ nặng nề bao nhiêu, chỉ trích Hoa Kỳ và Úc là « phản bội », « lá trái lá phải », « phá vỡ niềm tin », thì khối 27 nước thành viên lại có những phản ứng « dè dặt » bấy nhiêu. Lãnh đạo ngành ngoại giao Liên Âu, Joseph Borell chỉ « bày tỏ tình liên đới rõ ràng đến Pháp ». Chủ tịch Ủy ban Châu Âu, Ursula Von Der Leyen, cẩn trọng tuyên bố « một trong số nước thành viên của chúng tôi đã bị đối xử một cách không thể chấp nhận. Chúng tôi muốn biết chuyện gì đã xảy ra và vì sao ». Gerard Araud, cựu đại sứ Pháp tại Washington trên đài France Culture lưu ý, cuộc khủng hoảng này diễn ra trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung ngày càng trở nên gay gắt. Thế giới cũng đang đi vào một kỷ nguyên mới, sau một thời gian dài có những biến đổi quan trọng, từ một thế giới lưỡng cực trong suốt giai đoạn Chiến Tranh Lạnh, chuyển sang đơn cực khi Liên Xô sụp đổ và Hoa Kỳ là siêu cường duy nhất. « Chúng ta đang trở về với thời kỳ 1914, nhưng trên bình diện thế giới, vào thời đó còn có một sự hiệp đồng, vấn đề là ngày nay không sự thỏa hiệp đó nữa. Nghĩa là các quốc gia cạnh tranh nhau, không còn một tiếng nói chung, hay thỏa hiệp tối thiểu về những lằn ranh đỏ của bên này hay bên kia. Nếu như cốt lõi của sự cạnh tranh năm 1914 là Sarajevo, thì giờ là châu Á. Một cách hiển nhiên, quý vị có một cường quốc đang đi lên và một cường quốc khác tìm cách kềm hãm đà tiến này. Đó là một ván cờ địa chính trị hoàn toàn mới mẻ không dễ gì hiểu được đối với châu Âu, vốn dĩ nhờ Mỹ mà họ đã thoát khỏi câu chuyện lịch sử 1945. » Tướng de Gaulle : Bạn, đồng minh nhưng không liên kết Trong thế giới mới này, nước Pháp vật vã khẳng định một vị thế. Hoa Kỳ là đồng minh chiến lược, lá chắn bảo đảm an ninh lâu đời cho châu Âu trước những mối đe dọa được cho là đến từ Nga, nhưng Trung Quốc lại là một đối tác thương mại hàng đầu. Vậy Liên Hiệp Châu Âu phải ngả theo ai ? Trong khi mà nước Pháp, từ 20 năm qua không ngừng vận động cho ý tưởng một nền quốc phòng chung châu Âu. Vấn đề này càng trở nên phức tạp do Washington luôn có những phát biểu nước đôi. Một mặt, Hoa Kỳ tuyên bố không đòi hỏi các nước phải chọn phe, nhưng mặt khác lại gây áp lực mạnh. Theo diễn giải của nhà nghiên cứu về quan hệ xuyên Đại Tây Dương, Martin Quencez, thuộc Marshall German Fund, thì cách hành xử này của Mỹ đối với châu Âu cũng như trong vụ khủng hoảng tầu ngầm cho thấy rõ Washington quan ngại lập trường của Pháp về điều được gọi là « cân bằng khoảng cách » giữa Mỹ và Trung Quốc. « Pháp giải thích rằng thế giới ngày nay được kiến tạo bởi sự cạnh tranh giữa các cường quốc và do vậy châu Âu phải là một trong số các cường quốc đó để không bị những cường quốc khác nuốt chửng. Đối với Mỹ, lập trường này chính là "hướng đi thứ ba" giữa Washington và Bắc Kinh, một hướng đi không thể chấp nhận được. » Về điểm này, nhà cựu ngoại giao Pháp giải thích rõ hơn về cách nhìn của Pháp đối với mối đe dọa từ Trung Quốc. « Nước Pháp không bị Trung Quốc đe dọa về mặt quân sự. Liên Hiệp Châu Âu cũng không bị Trung Quốc đe dọa về mặt quân sự. Hơn nữa, Liên Hiệp Châu Âu còn tuyên bố một sự cạnh tranh "có hệ thống" nhưng không phải là một sự đối đầu với Trung Quốc. Chúng ta không hề có một sự đối đầu công khai với Trung Quốc. Do vậy, chúng ta phải tìm ra một thế cân bằng đúng đắn trong quan hệ với Trung Quốc. Chúng ta không cần phải tham gia vào cuộc thập tự chinh quân sự, một sự bao vây. Nhìn từ Bắc Kinh, những gì Mỹ đang làm là thiết lập một vòng vây liên minh hải quân để đối phó với Trung Quốc. » Ấn Độ - Thái Bình Dương : Những khác biệt về cách nhìn Giờ đây, cuộc khủng hoảng AUKUS nổ ra, làm lộ rõ thế « cô lập » của Pháp ngay trong lòng khối Liên Âu. Những gì Pháp nhận được từ các đối tác châu Âu chỉ là một lòng trắc ẩn, tỏ ra thông cảm nỗi bực bội của Pháp. Nhà nghiên cứu Martin Quencez nhận định : « Sự việc cho thấy rõ bất kể đó là từ Vacxava, Berlin, Roma hay là Stockholm có một nỗi sợ là cuộc khủng hoảng này sẽ bị châu Âu hóa, hay biến thành một vấn đề xuyên Đại Tây Dương. Họ nhìn vụ việc này như là một cuộc khủng hoảng riêng giữa Pháp và Mỹ, hay Pháp và Úc. Do vậy, tuyệt đối không nên bước thêm một bước để ủng hộ Pháp. Như vậy, nước Pháp vừa là bên thua thiệt trong mối quan hệ với Mỹ, quan hệ với Úc và Anh, vừa cả trong quan hệ với các đối tác châu Âu, vốn đã không cho thấy rõ tỏ tình liên đới như Pháp mong đợi. Ngược lại, đối với Mỹ, đây thật sự là một thắng lợi hoàn toàn, bởi vì Mỹ chứng tỏ được rằng nước Pháp đã không được Liên Hiệp Châu Âu ủng hộ. » Thái độ dè dặt và thiếu một chính sách chung chống Trung Quốc từ Liên Hiệp Châu Âu như lời chỉ trích từ chính quyền Washington, còn do nhiều nước thành viên Liên Hiệp Châu Âu không có cùng một cách nhìn về thế giới cũng như là chiến lược Ấn Độ - Thái Bình Dương. Nhà nghiên cứu Martin Quencez giải thích. « Việc khả năng có một chính sách chung đối với Trung Quốc, người ta không có cùng khái niệm về thời gian. Với một số nước châu Âu, thách thức mà Trung Quốc đặt ra nằm trong khoảng 20, 30 hay 40 năm tới. Trong trường hợp này, chiến lược của Liên Hiệp Châu Âu về vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, lịch sử trêu ngươi, lại được công bố cùng ngày với thông báo liên minh quân sự AUKUS, đã được thiết lập trong một triển vọng khá xa. Nhưng đối với Mỹ, triển vọng này hoàn toàn khác. Chính quyền Washington cho rằng giai đoạn được cho là nguy hiểm nhất, nằm trong khoảng từ 5-7 năm tới, nghĩa là giai đoạn chuyển tiếp. Rồi chúng ta còn có khó khăn khác nữa là giữa các nước châu Âu, chúng ta không có cùng một lợi ích tại vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Nước Pháp là một quốc gia vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương, sở hữu nhiều vùng lãnh thổ trong khu vực, hơn 1,6 triệu công dân Pháp sinh sống tại đây, 90-93% vùng đặc quyền kinh tế của Pháp cũng nằm trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương. Đây là một nét đặc thù của Pháp so với các nước Liên Hiệp Châu Âu khác, vốn xem vùng này như là một thách thức ở xa. Nhìn từ Vilnus, Bucarest, hay Roma, Trung Quốc không là một kẻ thù hay là một mối nguy hiểm ngay sát cửa biên giới. Nhưng nước Pháp không có một chọn lựa nào khác. Paris phải trụ trong vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương. Và liên minh AUKUS cũng chẳng làm thay đổi điều đó, chẳng có lý do gì Pháp phải thoái lui khỏi khu vực. » Đánh đồng lợi ích quốc gia với châu Âu : Một sai lầm của Paris Đối với Pháp, cuộc khủng hoảng này đã làm « tan vỡ niềm tin » giữa các nước đồng minh. Theo ngoại trưởng Pháp Jean-Yves Le Drian, việc thành lập AUKUS cho thấy « Mỹ đang tái tập trung các lợi ích cơ bản của họ trong cuộc đối đầu với Trung Quốc ». Tuy nhiên, theo ông Gérard Araud, lời kêu gọi của Pháp cho rằng Liên Hiệp Châu Âu nên có một nền tự chủ quốc phòng vẫn còn gặp nhiều khó khăn do những khác biệt về lợi ích. « Vấn đề ở đây là Hoa Kỳ đã quân sự hóa chính sách đối ngoại, trong khi Liên Hiệp Châu Âu, đối mặt với Trung Quốc lại không có một chính sách quân sự nào. Liên Hiệp Châu Âu không phải là một cường quốc quân sự, do vậy có thể thảo luận về tất cả những chủ đề khác. Thứ hai, từ Obama, Trump cho đến Biden, cho dù có sự khác biệt về phương pháp, phong cách lãnh đạo, lúc nào cũng có một sự tiếp nối lớn. Hoa Kỳ không muốn là cảnh binh của thế giới, Hoa Kỳ chuyển trục sang đối đầu với Trung Quốc. Chủ đề thứ ba là về tự chủ quốc phòng. Ở đây có một thực tế là các nước Đông Âu, họ cần duy trì lá chắn của Mỹ trước những hành động đáng quan ngại từ Nga, nhất là đối với những nước yếu thế như các nước Baltic, Ba Lan. Còn đối với nhiều Tây Âu, họ cần sự bảo đảm an ninh của Mỹ là vì như vậy cho phép họ không chi tiêu nhiều cho quốc phòng. Chẳng hạn, ngân sách cho quốc phòng của Tây Ban Nha chỉ chiếm có 1,02% GDP, của Ý là 1,41% hay của Đức là 1,55%. Giả như chúng ta phải độc lập về quốc phòng, cần phải có nhiều nỗ lực về quân sự, một thiện chí về sức mạnh mà nhiều nước châu Âu đã không có. Nước Đức không muốn là một cường quốc lớn, mà muốn là một nước Đại Thụy Sĩ. Đó là một quốc gia đang già đi rất nhanh, tuổi thọ trung bình ở Đức là 48 tuổi nhưng ở Pháp là 40. Trong khi đó nước Anh đang rời Liên Hiệp Châu Âu. Chính vì vậy mà nước Pháp bị cô lập tại châu Âu. » Dẫu sao thì, chuyên gia Martin Quencez và cựu đại sứ Pháp Gérard Araud cũng có chung một nhận định, những vấn đề trên mang một tầm nhìn đơn phương từ phía Pháp. Cuộc khủng hoảng tầu ngầm và liên minh AUKUS là chuyện nội bộ giữa Pháp và Mỹ. Nền ngoại giao Pháp những năm gần đây mắc phải sai lầm to lớn : Đánh đồng những lợi ích quốc gia với lợi ích Liên Hiệp Châu Âu. Điều này giải thích vì sao Pháp bị cô lập trong nhiều hồ sơ quốc tế lớn từ Syria, Libya, Mali, cho đến vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương !
    9/30/2021
    9:35
  • Tạp chí tiêu điểm - Úc phá vỡ hợp đồng với Pháp để đổi chiến lược chống Trung Quốc
    Có lẽ ngày 16/09/2021 (theo giờ Úc) cũng đã nhẹ nhàng trôi qua như bao ngày khác, nếu như Úc - Mỹ - Anh không công bố hiệp ước quốc phòng mang tên AUKUS, với việc cho phép Úc có được hạm đội tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân. Điều này cũng có nghĩa là hợp đồng mua tàu ngầm chạy bằng động cơ diesel - điện do Pháp thiết kế sẽ bị hủy bỏ. Tại sao chính phủ Morrison lại làm điều này ? Có chăng sự bội tín từ Canberra đã làm nội các Paris nổi giận và có ảnh hưởng lên mối quan hệ đôi bên ? Phản ứng từ Bắc kinh trước tầm nhìn chiến lược mới của Úc ra sao ? Mời quý vị theo dõi cuộc phỏng vấn của RFI Tiếng Việt với luật sư - nhà báo Lưu Tường Quang*. ********** RFI Tiếng Việt trước hết xin cảm ơn ông đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn. Nếu nhìn một cách bao quát trên cục diện địa chính trị, chiến lược Tam cường AUKUS cùng với việc Úc mua tàu ngầm năng lượng hạt nhân có ý nghĩa đặc biệt thế nào ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Trong bối cảnh địa lý chính trị mới, mối đe dọa từ Trung Quốc mỗi ngày một gia tăng, đặc biệt tại Biển Đông. Do đó lãnh tụ Mỹ, Anh và Úc đã mật đàm nhiều tháng trong và sau Hội nghị Thượng Đỉnh G7 tại Vương Quốc Anh hồi tháng 6/2021. Kết quả, liên minh chiến lược gọi là AUKUS được công bố cùng một lúc tại ba thủ đô ngày 16/9 bởi thủ tướng Úc Scott Morrison, thủ tướng Anh Boris Johnson và tổng thống Mỹ Joe Biden. Cả thế giới, bạn cũng như thù, Bắc Kinh cũng như Paris, đều ngạc nhiên trước diễn tiến này. Mặc dầu chính phủ Pháp đã nhận được thông báo nhiều giờ trước, nhưng Paris đã không coi là “tham khảo” đúng nghĩa và theo đúng nguyên tắc bang giao quốc tế. AUKUS là một liên minh chiến lược dài hạn, mà dự án đầu tiên và có lẽ quan trọng nhất là Mỹ, Anh sẽ trợ giúp Úc trong việc xây dựng hạm đội 8 chiếc tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân. Hậu quả, dự án hợp tác 12 tàu ngầm quy ước trị giá 90 tỷ Úc kim (tương đương với 66 tỷ Mỹ kim và 50 tỷ euro) mà Pháp và Úc đã ký kết năm 2016 bị hủy bỏ. Thỏa hiệp song phương Pháp - Úc đã tiến vào thời điểm chốt mà mỗi bên đều có thể hủy bỏ. Trái lại, nếu Úc không dứt khoát và để thời điểm này trôi qua, hợp đồng sẽ khó có thể hủy bỏ hoặc là việc hủy bỏ sẽ quá tốn kém, nên không còn cơ hội nào tốt bằng chính thời điểm này. AUKUS có ý nghĩa đặc biệt, vì đây là lần đầu tiên Mỹ chia sẻ kỹ thuật nguyên tử tối mật với một đồng minh, ngoại trừ Vương Quốc Anh 60 năm trước đây. Nước Úc cam kết sẽ tuân thủ quy định không phổ biến vũ khí nguyên tử theo Hiệp ước Quốc tế NPT. Và cũng không kém phần quan trọng về mặt chính trị quốc nội, đó là Úc sẽ không chế tạo và sử dụng vũ khí nguyên tử. Tổng thống Biden và thủ tướng Morrison đều đã nhấn mạnh khi loan tin về sự thành lập AUKUS: 8 chiếc tàu ngầm này sẽ sử dụng năng lượng hạt nhân, nhưng sẽ không được trang bị vũ khí nguyên tử. Tuy vậy, hạm đội mới này cho thấy Úc đang thay đổi tư duy về vai trò của mình trong liên minh với các quốc gia tự do dân chủ. Đặc biệt hơn nữa là thế đứng của Úc trước sự trỗi dậy quân sự của Bắc Kinh. RFI : Như ông đã nói, việc chính quyền thủ tướng Scott Morrison thực hiện dự án đầu tiên của AUKUS cũng đồng nghĩa hợp đồng đóng tàu ngầm hàng chục tỷ đô la Úc với Pháp sẽ bị hủy. Trong khi, Pháp là một đồng minh thân hữu, một đối tác chiến lược quốc phòng quan trọng của Úc. Điều này có được coi như là một sự bội tín theo cách cáo buộc từ Paris, hay đây là kết quả tất yếu đã được dự báo trước qua các lần thương thảo đôi bên ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Chính phủ Pháp tỏ ra giận dữ và cay đắng trước diễn tiến mới này, không những về mặt nội dung, mà còn về phương cách “tham khảo” và thông báo quyết định mà Pháp coi là rất vụng về. Sau nhiều lần thương lượng gay go, chính phủ Pháp và Úc đã ký thỏa hiệp năm 2016. Theo đó, Pháp (thoạt đầu do Tổng Công Ty DCNS và tiếp theo là do Naval Group, một Tổng Công ty quốc doanh) sẽ xây dựng 12 chiếc tàu ngầm tấn công “attack submarines” thuộc lớp Barracuda. Lúc bấy giờ, chính phủ Úc có thể chọn loại Barracuda chạy bằng năng lượng hạt nhân hoặc Barracuda theo quy ước, tức là sử dụng diesel-electric. Úc đã lầm lẫn và gây ra sự chậm trễ khi chọn Barracuda quy ước. Hai nước phải thương thuyết lại nhiều lần và đã có lúc thỏa hiệp có nguy cơ bị bãi bỏ. Và gần đây nhất, các cuộc thảo luận này diễn ra ở cấp cao nhất là giữa thủ tướng Morrison và tổng thống Emmanuel Macron. Sau khi tham dự Hội Nghị Thượng đỉnh G7 tại Anh hồi tháng 6, tức là khi mật đàm tam phương đã bắt đầu, phái đoàn thủ tướng Morrison công du Pháp và được tổng thống Macron tiếp đón tại điện Elysée. Dự án tàu ngầm Pháp - Úc được thảo luận. Theo lời đại sứ Pháp tại Canberra, ông Jean-Pierre Thebault (nhân vật có mặt tại cuộc gặp gỡ này), thủ tướng Morrison đã nêu lên quan ngại của Úc về chính sách và hành động của Bắc Kinh tại Ấn Độ - Thái Bình Dương và Úc phải có quyết định thích hợp để bảo vệ quyền lợi quốc gia. Chính phủ Pháp có thể đã không giải thích phát biểu của ông Morrison như là một thông báo rằng Canberra sẽ thay đổi dự án đóng tàu. Hoặc nếu chính phủ Pháp đã giải thích đúng ý định của thủ tướng Morrison, sự hoài nghi này có thể đã bị đánh tan, bởi vì khoảng 3 tuần lễ trước khi công bố AUKUS, ngoại trưởng Úc Marise Payne hoặc/và bộ trưởng Quốc Phòng Úc Peter Dutton đã xác nhận với các bộ trưởng đồng nhiệm Pháp là dự án Barracuda không có gì thay đổi. Phản ứng bất mãn mạnh mẽ của Pháp không những đã được diễn đạt bằng lời, mà còn bằng hành động. Ngoại trưởng Pháp, Le Drian mô tả hành động của Úc và Mỹ là “một nhát đâm sau lưng” của một đồng minh. Bộ trưởng Quân Lục Pháp Florence Parly tố cáo Úc đã phản bội, làm mất lòng tin giữa hai nước. Nhưng quan trọng hơn cả, tổng thống Pháp Macron nói rằng, hành động của tam cương Mỹ - Anh - Úc là không thể chấp nhận được giữa các đồng minh. Ông Macron còn tố cáo tổng thống Mỹ Biden đã phá hoại dự án tàu ngầm của Pháp và Úc. Bên cạnh đó, chính phủ Pháp đã triệu hồi đại sứ Pháp tại Washington và đại sứ Pháp tại Canberra về nước “để tham khảo ý kiến”. Đây là hành động và ngôn ngữ thông thường khi một chính phủ muốn hạ giảm mức độ bang giao với một chính phủ khác. Tại Washington, tòa đại sứ Pháp hủy bỏ một lễ kỷ niệm 240 năm hải quân Pháp trợ giúp hải quân Mỹ đánh bại hải quân Anh trong cuộc chiến dành độc lập của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, có lẽ quan trọng hơn hết là chính sách của Paris đối với Bắc Kinh. Trong vài năm gần đây, chính phủ Pháp đã gia tăng sự hiện diện hải quân tại vùng Đông Nam Á, và năng động hơn cùng với các đồng minh Âu - Mỹ trước sự bành trướng của Bắc Kinh. Nếu vì lý do AUKUS mà Paris trở nên thụ động hơn trong chính sách đối trọng với Trung Quốc, đó sẽ là điều không may cho cả Úc (và Việt Nam) trong vấn đề Biển Đông. Ngoài ra, Pháp là một thành viên rất quan trọng trong khối Liên Âu mà Úc đang thương thuyết hiệp định tự do thương mại FTA. Mặc dầu Liên Âu đã xác nhận AUKUS sẽ không gây ảnh hưởng tiêu cực cho tiến trình đàm phán FTA, nhưng không ai có thể tiên liệu việc gì sẽ xảy ra. Điều mà chúng ta có thể tiên liệu, và chính phủ Úc cũng sẵn sàng, đó là Pháp sẽ đòi bồi thường thiệt hại lên đến nhiều tỷ đô la. Cả hai chính phủ vào một lúc nào đó sẽ phải tạo lại hòa khí, nhưng tiến trình này có thể mất nhiều năm. RFI : Có những nguyên nhân khả dĩ nào để giải thích cho hành động chuyển hướng mang tính bùng nổ này của Canberra, thưa ông ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Từ sau Thế chiến Thứ hai, Úc theo đuổi chính sách phi nguyên tử. Cụ thể, Úc không nỗ lực chế tạo vũ khí nguyên tử, cũng như không năng động tạo dựng một kỹ nghệ nguyên tử tại Úc, thí dụ như sử dụng nguyên tử nặng vào lĩnh vực năng lượng mà nước Úc cần. Mặc dầu về mặt tài nguyên, Úc rất giàu có với khối lượng uranium đáng kể. Bởi thế, AUKUS được coi là một sự xoay chiều quan trọng lần đầu tiên xảy ra trong hàng mấy thập niên qua. Chính phủ Úc không nhìn AUKUS từ góc cạnh kinh tế, mà hoàn toàn về mặt chiến lược an ninh quốc phòng. Thủ tướng Morrison nói rằng mục tiêu chiến lược của Úc không thay đổi, tức là bảo vệ chủ quyền, độc lập và giá trị tự do dân chủ cho nước Úc, đặc biệt là đối với các đại cường. Thế nhưng, theo đánh giá của chính phủ Úc, bối cảnh chiến lược đã thay đổi trong thực tế. Đó là sự đe dọa mỗi ngày một gia tăng từ Trung Quốc, với sự trỗi dậy không hòa bình về mặt kinh tế và quân sự. Do đó, dù không thay đổi mục tiêu chiến lược, nước Úc cần phương tiện tân tiến hơn để theo đuổi mục tiêu chiến lược ấy (Thủ tướng Úc Morrison đã nói “We do not change our mind, but we need a new tool”). Đó là lý do vì sao Úc cần có hạm đội tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân. Tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân có rất nhiều lợi thế so với tàu ngầm quy ước, vì nó có khả năng lặn sâu rất lâu, hoạt động trong một vùng địa lý rộng lớn hơn và vận hành rất êm,nên khó có thể bị phát hiện. Tàu ngầm hạt nhân cũng ít khi cần phải nổi lên mặt nước, nên không dễ bị tấn công. Nhưng ngược lại, tàu ngầm hạt nhân cũng bị tai nạn và điều này đã xảy ra nhiều lần trong các hạm đội Mỹ, Anh, Nga, v.v… Một bất lợi khác cho Úc là thiếu chuyên viên kỹ thuật và nguồn nhân lực phục vụ hạm đội tàu ngầm. Còn nhiều yếu tố quan trọng khác mà vào thời điểm này chưa được tiết lộ là tổng phí của hạm đội tàu ngầm này. Sau 18 tháng nghiên cứu và thảo luận giữa các chuyên viên Mỹ - Anh - Úc, người ta chưa biết tàu ngầm sẽ được xây dựng như thế nào và tại đâu, cũng có thể tại Mỹ và một phần tại Adelaide, tiểu bang Nam Úc. RFI : Ngoài nước Pháp, theo ông, tại sao Trung Quốc cũng có phản ứng tiêu cực mạnh mẽ và thái độ của Bắc Kinh đối với Canberra sẽ như thế nào ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang : Bắc Kinh cũng chỉ trích mạnh mẽ Thỏa hiệp Tam cương AUKUS, bởi Bắc Kinh hiểu rằng, Trung Quốc là lý do chính của sự hình thành hợp tác chiến lược này, mặc dù lãnh tụ ba nước thành viên không hề nhắc đến Trung Quốc, khi công bố cũng như khi trả lời phỏng vấn. Ba lãnh tụ không lạ gì với phản ứng của Bắc Kinh. Trong khi đó, Pháp là quốc gia duy nhất bên ngoài AUKUS mà tổng thống Joe Biden nhắc đến, với sự ca ngợi quan hệ đồng mình chặt chẽ với Mỹ. Chắc hẳn ông Biden cũng dự đoán được phản ứng từ Paris. Phát ngôn viên bộ Ngoại giao, Triệu Lập Kiên, như thường lệ, đả kích ba thành viên AUKUS là hãy còn "tư duy lỗi thời của thời Chiến tranh lạnh" và họ sẽ gây thiệt hại cho chính họ. Bắc Kinh còn đổ trách nhiệm vào ba nước AUKUS về một cuộc chạy đua vũ trang, tạo bất ổn cho toàn thế giới. Hoàn Cầu Thời Báo, cơ quan ngôn luận diều hâu của Nhân dân Nhật báo Bắc Kinh, còn táo bạo hơn khi xác quyết rằng trong bất cứ cuộc chiến nào, nếu xảy ra, Bắc Kinh sẽ chiến thắng. Tại Úc, viễn cảnh một cuộc tấn công từ phía Trung Quốc, đặc biệt từ các căn cứ ở Biển Đông, là một đề tài thường xuyên được thảo luận giữa các chuyên gia và chính giới. Cựu thủ tướng Paul Keating và cựu thủ tướng Kevin Rudd, cũng như Giáo sư Hugh White, một chuyên gia về an ninh quốc phòng vẫn thường lập luận rằng, về mặt chiến lược, nước Úc nên tiến gần với Bắc Kinh, hơn là duy trì quan hệ chặt chẽ như hiện nay với Mỹ. Hai cựu lãnh tụ Đảng Lao Động còn e ngại rằng, nguy cơ bị tấn công từ Bắc Kinh sẽ gia tăng vì Úc là thành viên của AUKUS. Tuy vậy, đây chỉ là quan điểm thiểu số. Trong khi đó, đa số dân chúng và phần lớn chính giới Úc vẫn ủng hộ quan hệ đồng minh giữa Úc và Hoa Kỳ mà nền móng đã được đặt trên Hiệp định hợp tác quốc phòng ANZUS 1951. ANZUS là chiếc dù bảo vệ của Mỹ trước mối đe dọa thường xuyên của Trung Quốc. Và nay AUKUS tạo cơ hội cho Úc có khả năng đóng góp hữu hiệu hơn với tư cách là thành viên của khối các quốc gia tự do dân chủ. Có thể là một lập luận nghịch lý, nhưng khi nước Úc mạnh mẽ hơn về mặt quân sự trong một liên minh chiến lược mạnh mẽ hơn, nguy cơ một cuộc chiến với Trung Quốc sẽ giảm, vì cuộc chiến mà Bắc Kinh gây ra sẽ vô cùng tốn kém cho Trung Quốc. Đó là hậu quả của một thế chiến lược trên nền tảng quân bình sức mạnh quân sự gọi là deterrence. Trong khi đó, nếu Úc bị đe dọa tấn công (kể cả bằng vũ khí nguyên tử), đôi lúc Canberra cũng có thể tạo áp lực ngược lại. Trung Quốc nộp đơn xin gia nhập Hiệp định Tiến bộ và Toàn diện Hợp tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), nhưng Bộ trưởng Thương mại Úc Dan Tehan đã cảnh báo, Canberra có thể bác đơn này. Một quốc gia chỉ có thể gia nhập CPTPP khi được tất cả thành viên đương nhiệm đồng thuận. RFI : Rõ ràng kế hoạch chế tạo hạm đội tàu ngầm sử dụng năng lượng hạt nhân là một sự thay đổi lớn nhất trong định hướng chiến lược và quốc phòng của Úc trong nhiều thập kỷ. Đây được coi như một phần của mối quan hệ đối tác lịch sử với Mỹ và Anh nhằm chống lại sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Tuy nhiên, liệu kế hoạch này có ảnh hưởng lên mối quan hệ giữa Úc và Pháp, cũng như với các đối tác thường xuyên khác hay không ? Luật sư-Nhà báo Lưu Tường Quang :Chính phủ Úc đã công khai tuyên bố sẵn sàng thảo luận với Pháp để giải quyết khác biệt sau khi thỏa hiệp song phương bị hủy bỏ. Mặc dầu ở thời điểm này, chính phủ Úc từ chối xin lỗi (qua phát biểu của bộ trưởng Quốc phòng Úc, Peter Dutton). Thế nhưng, trong bang giao quốc tế, lời xin lỗi có thể được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Nước Pháp cũng có thể trừng phạt kinh tế đối với Úc qua tiến trình thảo luận Hiệp định FTA với Liên Âu, nhưng để làm được điều này, trước hết Pháp cần phải thuyết phục 26 thành viên Liên Âu còn lại. Có thể nêu một vài phản ứng khác, trước hết là từ các nước láng giềng gần gũi. Mặc dù có quan hệ rất chặt chẽ về mặt kinh tế và hợp tác quốc phòng với Úc, New Zealand sẽ tiếp tục duy trì chính sách phi nguyên tử và không cho phép tàu chiến nguyên tử đến New Zealand. Trong khi đó, Indonesia không chính thức chống đối AUKUS, nhưng cũng bày tỏ quan ngại trước viễn tượng nước Úc có hạm đội tàu ngầm hạt nhân trong vòng 20 năm sắp tới. Vì lập trường này của Indonesia, thủ tướng Morrison đã phải hủy bỏ chuyến công du đến Jakarta. Ngoài ra, Malaysia cũng đã bày tỏ phản ứng tương tự như Indonesia. Trong khi đó, Việt Nam hình như chưa có phản ứng chính thức và công khai. Trên nguyên tắc, một nước Úc mạnh mẽ hơn và có ảnh hưởng nhiều hơn tại Biển Đông cũng có thể coi là thuận lợi cho Việt Nam. Vào thời điểm này, Singapore và Philippines là quốc gia Đông Nam Á có phản ứng tích cực với sự hình thành của AUKUS. RFI Tiếng Việt cảm ơn Luật sư-nhà báo Lưu Tường Quang. ********** * Ghi chú: Luật sư - Nhà báo Lưu Tường Quang có mối quan tâm đặc biệt đến các vấn đề chính trị, ngoại giao tại Úc và các nước trong khu vực Châu Á Thái Bình Dương. Ông là cựu Trưởng nhiệm SBS Radio (Head of SBS Radio), một cơ quan truyền thông đa văn hóa  của Úc Châu.
    9/23/2021
    11:26

À propos de TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Site web de la radio

Écoutez TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM, TẠP CHÍ ÂM NHẠC ou d'autres radios du monde entier - avec l'app de radio.fr

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM

Téléchargez gratuitement et écoutez facilement la radio et les podcasts.

Google Play StoreApp Store

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM: Podcasts du groupe

TẠP CHÍ TIÊU ĐIỂM: Radios du groupe

Information

En conséquence des restrictions de votre navigateur, il n'est pas possible de jouer directement la station sur notre site web.

Vous pouvez cependant écouter la station ici dans notre Popup-Player radio.fr.

Radio